ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng ruột kích thích là một rối loạn chức năng mạn tính của hệ thống tiêu hóa [37]. Bệnh nhân thường biểu hiện bằng đau bụng và thay đổi thói quen đại tiện (hoặc tiêu chảy, hoặc táo bón, hoặc cả hai) [16]. Tuy nhiên, bởi các dấu ấn sinh học chưa thực sự mạnh mẽ, hội chứng ruột kích thích vẫn được chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng [39]. Triệu chứng của hội chứng ruột kích thích khá thường gặp trong cộng đồng, tuy nhiên, biểu hiện bệnh thường dễ bị bỏ qua bởi diễn biến âm thầm và đặc biệt là bởi không nhất định cần đến một chăm sóc y tế bắt buộc [47].
Điều này dẫn đến sự khác biệt về tần suất mắc bệnh giữa cộng đồng và trong bệnh viện [41]. Tỷ lệ này tại Pháp là 1,123-4,724; Singapore là 2,336-11,037; Nhật là 6,145-14,406; Đài Loan là 17,556-22,156; Hồng Kong là 3,727-6,628 [40]. Tại Việt Nam, con số này được ghi nhận qua một số nghiên cứu là khoảng 7,2% - năm 2006 [59]; 10,3% (trên sinh viên) - năm 2016 [62]. Trong những năm gần đây, xu hướng sử dụng thảo mộc trong điều trị đang ngày càng phổ biến, đặc biệt là trong một số bệnh lý mạn tính.
Xuất phát từ nền tảng các bài thuốc cổ phương, nghiệm phương được gia giảm phù hợp với tình hình lâm sàng của từng bệnh nhân theo hướng cá thể hóa trong điều trị nhằm giảm thiếu triệu chứng lâm sàng, giải quyết một số căn nguyên và nâng cao chất lượng cuộc sống. “Hương sa lục quân” là một trong số những bài thuốc được chỉ định đầu tay trong điều trị các chứng bệnh liên quan đến tiêu hóa nói chung và rối loạn chức năng đại tràng – hay còn gọi là hội chứng ruột kích thích nói riêng đem lại hiệu quả cao. Toàn phương có tác dụng kiện tỳ ích khí, sướng trung, điều lý khí cơ, chủ trị chứng tỳ vị suy yếu, đau bụng lâm râm. Dựa trên nền tảng đó, nhóm nghiên cứu xây dựng “Đại tràng - HV” với thành phần là “Hương sa lục quân” gia thêm bạch thược 20gam (dưỡng huyết, chỉ thống và Luan van 2 thần khúc 12gam (tiêu thực hòa vị) [10] giúp hỗ trợ tăng tác dụng của “Hương sa lục quân” trong điều trị hội chứng ruột kích thích trên lâm sàng.
Để có cơ sở khoa học cho bài thuốc “Đại tràng - HV”, bên cạnh việc xác định độc tính cấp theo quy định chung của Bộ Y tế trong việc sử dụng thuốc đông y, thuốc từ dược liệu đảm bảo an toàn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Đại tràng - HV” điều trị hội chứng ruột kích thích trên động vật thực nghiệm” nhằm 2 mục tiêu sau: 1. Đánh giá tác dụng giảm nhu động ruột, tái hấp thu nước và các ion của bài thuốc “Đại tràng - HV” trên động vật thực nghiệm. Đánh giá tác dụng phục hồi tổn thương hội chứng ruột kích thích trên động vật thực nghiệm. Luan van 3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan về hội chứng ruột kích thích 1. Theo y học hiện đại 1. Khái niệm Hội chứng ruột kích thích là một hội chứng bệnh lý được biểu hiện bằng đau bụng và rối loạn phân, thường không kèm tổn thương thực thể tại đại tràng [8]. Các biểu hiện đi kèm là đi ngoài nhiều lần trong ngày, trướng bụng, đầy hơi… [7] nguyên nhân do tình trạng rối loạn vận động đại tràng (tăng hoặc giảm) dẫn đến tiêu chảy/táo bón hoặc đại tràng quá mẫn cảm.
Bệnh có liên quan chặt chẽ đến trạng thái tinh thần (bệnh tâm thể). Sinh lý đại tràng Các vận động ở đại tràng bao gồm co bóp phân đoạn và các sóng nhu động [7]: Co bóp phân đoạn giúp cho thức ăn được nhào trộn và tiếp xúc với niêm mạc đại tràng để làm tăng hấp thu. Co bóp này xảy ra chậm, không đều, là sự co thắt giúp cho thức ăn lưu lại trọng đại tràng để tiêu hóa và hấp thu nước. Các sóng nhu động đẩy thức ăn về phía trực tràng.
Nó theo tuần tự từ trên xuống dưới, phụ thuộc vào: chất lượng thức ăn, yếu tố thần kinh và thể dịch. Đại tràng phải nhu động yếu, càng sang trái nhu động càng mạnh lên để tống phân xuống trực tràng. Đôi khi cũng có những sóng phản nhu động nhưng yếu. Ngoài ra, đại tràng còn có một loại co bóp đặc biệt là co bóp khối diễn ra như sau: Ở đoạn đại tràng ngang đang bị căng ra, một co bóp vòng xuất hiện làm chất phân ở đoạn ruột phía dưới bị ép lại thành khối.
Co bóp mạnh dần lên trong khoảng 30 giây rồi ruột giãn ra trong 2-3 phút và một co bóp Luan van 4 khối khác lại xuất hiện ở đoạn ruột xa hơn, chuỗi vận động này chỉ tồn tại trong nửa giờ, rồi nửa ngày hay một ngày sau lại xuất hiện. Khi những co bóp khối đẩy khối phân trực tràng, gây cảm giác muốn đại tiện do sự co phản xạ của trực tràng và giãn cơ thắt hậu môn. Phân loại Tiêu chuẩn Rome IV phân loại hội chứng ruột kích thích như sau [37]: - IBS-D (tiêu chảy chiếm ưu thế): Phân lỏng chiếm hơn 25% thời gian và phân cứng dưới 25% thời gian. - IBS-C (táo bón chiếm ưu thế): Phân cứng chiếm hơn 25% thời gian và phân lỏng ít hơn 25% thời gian.
- IBS-M (phân hỗn hợp): Cả phân cứng và lỏng chiếm hơn 25% thời gian. - IBS-U: Bệnh nhân đáp ứng tiêu chí chẩn đoán cho hội chứng ruột kích thích nhưng triệu chứng cơ năng ruột không thể được phân loại chính xác ở bất kỳ phân nhóm nào ở trên. Luan van 5 Hình 1. Thang điểm Bristol đánh giá tính chất phân [39] 1.
Cơ chế bệnh sinh Tăng nhận cảm nội tạng Tăng cảm giác đau tạng do kích thích các receptor cơ học. Cảm thụ nội tạng được thực hiện thông qua sự hoạt hoá của đường thần kinh hướng tâm gây ra do những kích thích tác động vào những thụ cảm thể hoá học trên niêm mạc, vào thụ cảm thể cơ học của cơ trơn và vào thụ cảm thể cảm giác của mạc treo ruột [41]. Rối loạn vận động bất thường của ruột Các rối loạn bất thường của ruột có thể xảy ra ở các đoạn khác nhau của ruột khi đói hoặc sau khi ăn. Ở bệnh nhân bị hội chứng ruột kích thích, sự đáp ứng của đại tràng với thức ăn thay đổi tuỳ theo thể bệnh nhưng thường là đáp ứng thái quá và kéo dài [53].
Luan van 6 - Vận chuyển nhanh ở ruột non làm giảm sự hấp thu ở niêm mạc và gây đại tiện lỏng. Vận chuyển chậm làm tăng hấp thu nước gây táo bón do đó tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển và cũng gây tiêu chảy. - Tốc độ của nhu động đẩy trong lòng ruột không tỷ lệ thuận với sự co cơ tại chỗ (co thắt đoạn). Ở những bệnh nhân bị táo bón, co thắt đoạn quá nhiều trong khi nhu động đẩy kém nên giảm khả năng đẩy phân xuống dưới và ra ngoài.
Trong trường hợp đại tiện lỏng thì ngược lại, giảm co thắt đoạn và tăng nhu động đẩy [53]. Thay đổi sự chịu đựng của ruột, một số đoạn ruột giảm khả năng chịu áp lực của khối thức ăn Sự gia tăng quá mức phản ứng ống tiêu hóa với các stress tâm lý (lo, buồn bực, trầm cảm, căng thẳng.), không dung nạp bẩm sinh với một số thức ăn, những viêm nhiễm tiêu hoá trong tiền sử cũng đóng một vai trò nhất định trong cơ chế bệnh sinh của hội chứng ruột kích thích [47]. Theo y học cổ truyền 1. Bệnh danh Thuộc phạm vi chứng Tiết tả [6], táo kết của Y học cổ truyền [13].
- Tiết tả là thứ bệnh đi đại tiện nhiều lần, phân loãng; nặng thì đi tả nước. Người xưa lấy chứng phân lỏng, thể không gấp là tiết (đẩy từ trong ra) [33],[32]; phân loãng như nước dốc xuống là tả. Nội kinh đã chia ra 5 chứng tiết: Cam tiết (đi sột sệt), đường tiết (đại tiện lỏng), hư tiết (đại tiện như cứt cò), nhu tiết và sáp tiết (đại tiện ra thức ăn chưa tiêu là có thấp kiêm có phong) [24]. - Táo kết do nhiều nguyên nhân gây ra: Âm hư, huyết nhiệt, huyết hư, khí hư và khí trệ [23].
Bệnh nguyên bệnh cơ Bệnh chủ yếu liên quan đến sự rối loạn và suy giảm công năng của ba tạng Can, Tỳ, Thận [11],[12]. - Tỳ và Vị: Vị có công năng là thu nạp đồ ăn thức uống và tiêu hóa chung dưới sự điều hành của tạng Tỳ, phân bố tinh khí về cho các tạng (ở đây sự vận hóa tinh khí của thủy cốc phải theo hướng Tỳ chủ thăng Vị chủ giáng) [22]. - Tỳ và Can (tương khắc): Vì một lý do nào đó Can vượng lên hoặc Tỳ suy yếu thì sẽ sinh ra Can Tỳ bất hòa mà sinh bệnh [22]. - Tỳ và Thận (tương khắc): Tỳ hư thủy thấp sẽ đình đọng gây tiêu chảy, phù nề, bụng trướng [22].
- Thấp tà hại Tỳ khiến công năng vận hóa bị trở ngại, thủy thấp tràn xuống dưới, thanh trọc bất phân, thăng phát thất thường sinh tiết tả [23]. Tổng quan về thuốc điều trị hội chứng ruột kích thích 1. Thuốc y học hiện đại 1. Thuốc chống co thắt - Kháng cholinergic: Là thuốc có tác dụng đối kháng với acetylcholine.
Atropin ít tác dụng với nhu động ruột bình thường, nhưng làm giảm nhu động khi ruột co thắt và tăng nhu động [41]. - Chống co thắt hướng cơ trơn: Mebeverine (Duspatalin) dẫn xuất từ papaverine, có tác dụng chống co thắt cơ trơn nhưng không làm giảm trương lực cơ, thuốc có tác dụng bình thường hoá các vận động của ruột (táo, lỏng) và bình thường hoá sự tăng nhạy cảm của ruột [3]. Thuốc điều hoà chức năng vận động đường tiêu hoá - Trimebutin (Debridat): Đây là thuốc tác dụng trên hệ enkephalinergic bằng cách kích thích các thể cảm thụ thể enkephalinergic ở ruột khi có rối loạn nhu động ruột [3]. Thuốc chống trầm cảm (amitriptyline, imipramine, desipramin…) - Những thuốc này được sử dụng cho bệnh nhân mắc hội chứng ruột kích thích, đặc biệt là những người có triệu chứng nặng hoặc kéo dài, thường lo lắng và trầm cảm [3],[43].
Thuốc kháng thụ thể 5-HT3 - Có tác dụng làm giảm trương lực cơ ruột sau khi ăn nên có tác dụng giảm triệu chứng đau bụng và khó chịu ở bụng. - Kháng 5-HT3 được dùng điều trị hội chứng ruột kích thích có đau và tiêu chảy chiếm ưu thế ở nữ giới [3]. Thuốc chống tiêu chảy - Các chất hấp phụ, bao phủ niêm mạc ruột (Smecta) với cấu trúc từng lớp và độ nhầy cao, có khả năng bao phủ niêm mạc tiêu hóa rất lớn.