ĐẶT VẤN ĐỀ Theo thống kê của Hội Đột Quỵ Hoa Kỳ, đột quỵ là nguyên nhân tử vong phổ biến thứ hai trên thế giới sau bệnh tim thiếu máu cục bộ, cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật ở người trưởng thành, bệnh lý thường gặp có tỷ lệ tử vong và di chứng cao, đòi hỏi chi phí về y học và xã hội. Tỷ lệ mắc bệnh tăng lên theo tuổi và ở nam cao hơn nữ [36], [7]. Do dân số già nên gánh nặng tăng lên rất nhiều trong 20 năm tới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Đột quỵ gây ra 9% tổng số ca tử vong trên thế giới, tỷ lệ tử vong do đột quỵ là 10 – 12 % ở các nước phương Tây và 12% trong số này là ở người dưới 65 tuổi.
Tỷ lệ tử vong thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi, có sự khác biệt giữa các quốc gia [36]. Tại nước ta, ước tính hàng năm có khoảng 200000 người bị đột quỵ, tỉ lệ tử vong là khoảng 50%. Bệnh đột quỵ xảy ra khi một phần não bộ bị tổn thương do tắc nghẽn mạch máu đi nuôi não gây đột quỵ nhồi máu não (xấp xỉ 85%) hoặc vỡ mạch máu não gây đột quỵ xuất huyết não. Lúc này, não bộ không được cung cấp oxy đủ để có thể hoạt động được nên một vùng não nào đó sẽ ngưng hoạt động và kéo theo không điều khiển các cơ quan khác hoạt động, có thể gây liệt nửa người, tay, chân, rối loạn ngôn ngữ, mất ý thức và có thể đi vào hôn mê … và nếu không được cấp cứu kịp thời, đúng cách thì vùng não sẽ chết và người bệnh có thể tử vong.
Trong lần đột quỵ đầu tiên, khoảng 1/3 số bệnh nhân chỉ bị ảnh hưởng nhẹ, 1/3 bị tàn phế nặng và 1/3 có thể bị tử vong; các lần đột quỵ tái phát sẽ có nguy cơ tử vong và tàn phế cao hơn [14]. Việc điều trị bệnh đột quỵ não còn nhiều hạn chế. Cho đến nay, tPA (human tissue- type plasminogen activator - yếu tố hoạt hóa plasminogen của mô) là liệu pháp duy nhất được FDA (Food and Drug Administration) phê chuẩn trong điều trị đột quỵ nhồi máu não với khả năng làm tan cục máu đông và phục hồi sự tưới máu đến vùng não bị thiếu máu. Tuy nhiên, t-PA có giới hạn phạm vi tác dụng trong 4,5 giờ tính từ thời điểm bắt đầu bị đột quỵ và việc sử dụng các thuốc này cũng mang đến nguy cơ tử vong do xuất huyết não.
Do đó, phát triển các liệu pháp điều trị đột quỵ não mới là cần thiết [14]. Nhu cầu sử dụng thuốc để phòng chống lại căn bệnh này ngày càng cao, đặc biệt là các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên. Các thuốc cổ truyền, thuốc có nguồn gốc dược liệu có tiềm năng trong điều trị đột quỵ như hoạt tính chống viêm, chống oxy hóa, chống chết tế bào theo chương trình, bảo vệ thần kinh và an toàn hơn khi sử dụng trong thời gian dài [41]. Tam thất hoang có tên khoa học của là Panax stipuleanatus Tsai & Feng, thuộc chi Panax L, họ Ngũ gia bì (Nhân sâm) Araliaceae.
Theo y học cổ truyền, tam thất hoang được sử dụng để tán ứ, chảy máu và suy nhược cơ thể. Một số nghiên cứu đã chứng minh rễ củ 1 tam thất hoang có một số tác dụng dược lý đáng chú ý như: tiêu sợi huyết [13], chống viêm giảm đau [50], [61], tác dụng trên hệ thần kinh [13],. Hơn thế nữa, các loài thuộc chi Panax như tam thất (Panax notoginseng), nhân sâm (Panax ginseng) đã được nhiều nghiên cứu chứng minh có tác dụng bảo vệ thần kinh trên thực nghiệm cũng như trên lâm sàng [47], [65], [16], [60], [51]. Vì vậy đề tài “Nghiên cứu tác dụng bảo vệ thần kinh của tam thất hoang (Panax stipuleanatus) trên mô hình đột quỵ não thực nghiệm” được tiến hành với hai mục tiêu sau: 1.
Đánh giá tác dụng bảo vệ thần kinh của cao chiết cồn rễ củ tam thất hoang trên mô hình đột quỵ não bằng phương pháp làm tắc động mạch não giữa (MCAO). Bước đầu tìm hiểu cơ chế bảo vệ thần kinh của cao chiết tam thất hoang. Tổng quan về tai biến mạch máu não 1. Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế thế giới, đột quỵ là một hội chứng lâm sàng bao gồm: “Các dấu hiệu rối loạn chức năng của não (khu trú hoặc toàn thể) phát triển nhanh, kéo dài trên 24h hoặc dẫn đến tử vong, không xác định nguyên nhân nào khác ngoài căn nguyên mạch máu” [8].
Phân loại, nguyên nhân Có hai thể đột quỵ chính là đột quỵ nhồi máu não (hay đột quỵ thiếu máu não cục bộ) và đột quỵ chảy máu não [8], [36]. Đột quỵ nhồi máu não Xảy ra khi mạch máu não bị hẹp hoặc tắc dẫn đến lưu lượng máu não giảm trầm trọng và gây hoại tử, rối loạn chức năng thần kinh và vận động. Nguyên nhân dẫn đến đột quỵ nhồi máu não là do: huyết khối (cục máu đông được hình thành ngay tại chỗ, thường bắt đầu từ vữa xơ động mạch tiến triển theo thời gian); thuyên tắc mạch (tắc mạch do cục máu đông di chuyển từ vị trí khác đến, có thể do bệnh lý tim mạch hoặc phẫu thuật lớn); giảm tưới máu toàn thân (ví dụ như sốc). Đột quỵ chảy máu não Xảy ra khi máu chảy từ động mạch hoặc tĩnh mạch não dẫn đến ổ máu tụ lại gây áp lực lên nhu mô não và làm xuất hiện triệu chứng thần kinh.
Động mạch máu não bị vỡ, có thể gặp như chảy máu dưới nhện và chảy máu trong nhu mô não. Nguyên nhân gây ra chảy máu não có thể là tăng huyết áp (khi tăng kịch phát, huyết áp trung bình ≥ 160mmHg, thì cơ chế tự điều hòa theo hiệu ứng Billis bị mất đi. Thường gặp ở người lớn tuổi); vỡ túi phồng động mạch hoặc túi phồng động mạch – tĩnh mạch (thường gặp ở người trẻ tuổi); chảy máu sau nhồi máu (do kiểm soát huyết áp không tốt, điều trị không tốt); viêm tắc động mạch hoặc tĩnh mạch não; chảy máu não tiên phát. Thể đột quỵ nhồi máu não chiếm 85% trong tổng số ca bệnh bị đột quỵ não và tiên lượng tốt hơn thể chảy máu não.
Đặc điểm hệ thống động mạch máu não Hệ thống động mạch não gồm hệ động mạch cảnh trong và hệ động mạch sống – nền. Hệ động mạch cảnh trong tưới máu cho khoảng 2/3 trước của bán cầu đại não và chia thành 4 ngành tận: động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch thông sau và động mạch mạc trước. Mỗi động mạch não chia làm hai loại ngành: ngành nông cung cấp máu não cho vỏ não, ngành sâu đi vào trong não. 3 Động mạch não giữa đi qua tam giác khứu giác, uốn quanh thùy đảo và chạy ra phía sau vào rãnh Sylvius.
Khi tắc động mạch não giữa bệnh cảnh phổ biến vẫn là liệt nửa người ở tay và mặt rõ hơn ở chân, mất cảm giác nửa người. Hệ động mạch sống – nền phân bố máu cho thân não, tiểu não, mặt dưới thuỳ thái dương và thuỳ chẩm. Hai hệ thống mạch này thông với nhau tại đa giác Willis [2]. Khi có biến cố tắc, máu ở chỗ khác có áp suất cao hơn sẽ chảy máu sang bên có áp suất thấp do tắc, nhờ đó tuần hoàn não vùng tắc lại được hồi phục.
Khi tắc mạch nhỏ là mạch tận, thì nguy hiểm hơn vì không có mạch nối như ở mạch to. Đặc điểm sinh lý tuần hoàn não và cơ chế tự điều hòa cung lượng máu não Lưu lượng tuần hoàn não trung bình ở người lớn là 49 ± 5,4 ml/100g não/phút (chất xám: 79,7 - 10,7 ml/100g não/phút, chất trắng: 20,5 ± 2,5 ml/100g não/phút). Thể tích máu não là 4 – 5 ml/100 g. Thời gian chuyển máu trung bình 3,2 - 3,5 giây.
Ở trẻ em lưu lượng tuần hoàn não khu vực lớn hơn ở người lớn, và từ 60 tuổi trở đi lưu lượng tuần hoàn não giảm xuống nhanh chóng [2]. Cơ chế tự điều hòa cung lượng máu não: người bình thường có lưu lượng máu não luôn luôn cố định là khoảng 55 ml/100g não/phút. Lưu lượng này không biến đổi theo cung lượng tim. Khi có huyết áp cao, máu sẽ lên não nhiều thì các cơ trơn thành mạch nhỏ co lại và ngược lại khi huyết áp hạ các mạch lại giãn ra để máu lên đủ hơn.
Cơ chế điều chỉnh này sinh ra từ cơ trơn thành mạch tùy thuộc vào huyết áp trong lòng mạch, gọi là hiệu ứng Bayliss. Khi huyết áp trung bình thấp dưới 60 mmHg hoặc cao hơn 150 mmHg cung lượng máu não sẽ tăng hoặc giảm theo cung lượng tim (mất hiệu ứng Bayliss) [3], [11]. Cơ chế bệnh sinh đột quỵ nhồi máu não Cơ chế bệnh sinh của đột quỵ thể nhồi máu não rất phức tạp, bao gồm nhiều quá trình: cạn kiệt năng lượng tế bào do giảm tưới máu khu trú sau đó là nhiễm độc kích thích, stress oxy hóa, suy giảm chức năng hàng rào máu não, tổn thương vi mạch, kích hoạt cầm máu, viêm sau thiếu máu cục bộ và cuối cùng là sự chết các tế bào thần kinh, tế bào thần kinh đệm và tế bào thần kinh nội mô. Mức độ tổn thương vĩnh viễn phụ thuộc vào hai yếu tố: mức độ và thời gian thiếu máu não [31].
Vùng lõi thiếu máu và vùng penumbra (vùng tranh tối tranh sáng) Trong thiếu máu não cục bộ, vùng tổn thương sẽ chia thành 2 vùng là vùng lõi thiếu máu (vùng hoại tử) và vùng penumbra (vùng tranh tối tranh sáng). Vùng não bị giảm lưu lượng máu nghiêm trọng < 1 ml/phút/g không thể phục hồi gọi là vùng lõi thiếu máu. Trong vòng một vài phút bị thiếu máu cục bộ não, vùng lõi của mô não bị thiếu máu nghiêm trọng sẽ bị tổn thương và sau đó bị chết do hoại tử tế bào. Lõi hoại tử này được bao quanh bởi 4 một vùng mô bị ảnh hưởng ít nghiêm trọng hơn, trong đó hoạt động chức năng của nó bị tê liệt do tác động của thiếu máu não cục bộ nhưng hoạt động trao đổi chất của nó vẫn tiếp tục.
Hoại tử được mô tả với hình thái đặc trưng là sự phồng rộp của tế bào và các bào quan ở giai đoạn ban đầu, tiếp theo là sự phá vỡ của hạt nhân, bào quan và màng tế bào, cuối cùng là cấu trúc hạt nhân và bào quan tan rã bị tống đẩy ra không gian ngoại bào. Vùng não giáp với vùng lõi nhồi máu được gọi là “vùng thiếu máu cục bộ nửa tối”, chiếm một nửa tổng khối lượng tổn thương trong giai đoạn ban đầu của thiếu máu cục bộ, và là vùng có cơ hội được phục hồi thông qua các liệu pháp điều trị sau đột quỵ [1], [42].