chương 1 còn trình bày các câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, và những đóng góp của luận án về khía cạnh lý thuyết và thực tiễn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Theo đó, đề tài trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến thuê ngoài, lý thuyết về hiệu quả hoạt động của DN. Ngoài ra, luận án trình bày các nghiên cứu liên quan về thuê ngoài và các nghiên cứu tác động của việc sử dụng DVTN đến hiệu quả hoạt động của DN.
Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan, luận án xác định khe hổng và đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu. Luận án sẽ trình bày qui trình nghiên cứu và khung nghiên cứu cho đề tài. Ngoài ra, tác giả sẽ tiến hành xây dựng thang đo cho các khái niệm trong mô hình nghiên cứu.
Thêm vào đó, trong chương 3 của luận án, tác giả sẽ trình bày các phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu của đề tài. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Đề tài sẽ phân tích tình hình thuê ngoài dịch vụ ở các DNNVV tại ĐBSCL. Sau đó, đề tài tiến hành kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA, kiểm định giả thuyết bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, kiểm định Boostrap, và kiểm định Sobel.
Bên cạnh đó, đề tài còn thực hiện phân tích cấu trúc đa nhóm để kiểm định sự khác biệt về mức độ thuê ngoài và hiệu quả hoạt động của DN theo một số đặc điểm của mẫu khảo sát như qui mô DN, thời gian DN hoạt động và thuê ngoài, loại dịch vụ DN thuê ngoài và tỷ lệ thuê ngoài các hoạt động cốt lõi và phụ trợ. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu của đề tài. Đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các DNNVV ở ĐBSCL thông qua sử dụng DVTN.
Cuối cùng, luận án trình bày một số hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày một số cơ sở lý thuyết liên quan đến thuê ngoài và lý thuyết về hiệu quả hoạt động của DN. Sau đó, tác giả tiến hành tổng hợp và tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan về các nhân tố tác động có ý nghĩa thống kê đến việc thuê ngoài và tác động của thuê ngoài đến hiệu quả hoạt động của DN. Trên cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả xác định các khe hổng nghiên cứu để làm cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết.1 Cơ sở lý thuyết về dịch vụ thuê ngoài 2.1 Khái niệm về dịch vụ thuê ngoài Từ những năm 1980, thuật ngữ Outsourcing được nhắc đến như là một chiến lược kinh doanh cung cấp vô số cơ hội tăng lợi nhuận cho các DN đặc biệt là DN lớn (Quinn, 1999).
Tuy nhiên, ngày nay thuê ngoài dịch vụ lại được các DN có qui mô nhỏ và vừa có xu hướng lựa chọn, nhất là những DN có qui mô nhỏ (Hafeez và Andersen, 2014; Isaksson và Lantz, 2015). Đây còn được xem là một trong những giải pháp được nhiều DN trên thế giới sử dụng để tạo lợi thế cạnh tranh. Cho đến nay, có nhiều khái niệm khác nhau về thuê ngoài dịch vụ: Theo đó, có định nghĩa cho rằng, thuê ngoài dịch vụ là hoạt động tìm kiếm nguồn cung ứng bên ngoài để thực hiện các công việc tại DN. Đây được xem là giải pháp giúp DN giải quyết các khó khăn do thiếu công nghệ, nhân lực cũng như giúp DN thực hiện mục tiêu giảm chi phí đầu tư vào trang thiết bị, máy móc (Quinn, 2000; Jennings, 2002; Elmuti, 2003).
Bên cạnh đó, Yang và cộng sự (2007) giải thích thêm, thuê ngoài là việc DN sử dụng nguồn lực bên ngoài, nó bao gồm tất cả các hoạt động cần thiết cho sự tồn tại của DN nhưng không phải là hoạt động cốt lõi. Yang và cộng sự (2007) còn nhấn mạnh, đây là thỏa thuận mà trong đó một DN trao lại một phần hoạt động của họ cho một công ty/đối tác ở bên ngoài bằng một hợp đồng cung ứng dịch vụ. Cũng có khái niệm cho rằng, thuê ngoài dịch vụ là quá trình chuyển giao một phần hoặc tất cả hoạt động chức năng nội bộ của DN cho một nhà cung cấp bên ngoài thực hiện (Ketler và Walstrom, 1993). Giải thích rõ hơn về khái niệm này, Murem (1997) định nghĩa thuê ngoài như là việc chuyển một phần khối lượng công việc của DN (có thể là các hoạt động chính hoặc hoạt động phụ trợ) cho bên cung ứng dịch vụ để các nhà quản trị DN tập trung nguồn lực vào thực hiện các hoạt động cốt lõi.
9 Hay cũng có định nghĩa cho rằng, thuê ngoài dịch vụ là việc DN đưa ra quyết định chọn một hoặc một số hay tất cả các hoạt động chức năng để uỷ thác cho một công ty, một tổ chức hay một cá nhân bên ngoài thực hiện các hoạt động thay cho DN (Jan, 1999). Vì vậy, các DN cần xem xét và xác định rõ những hoạt động nào DN cần tự thực hiện, hoạt động nào DN nên sử dụng các nguồn lực sẵn có được cung ứng một cách chuyên nghiệp từ các tổ chức/cá nhân bên ngoài (Bhagat và cộng sự, 2010). Quinn và Hilmer (1995) cho rằng để đưa ra quyết định về hoạt động thuê ngoài, DN cần so sánh chi phí, và cân nhấc giữa lợi ích và rủi ro khi thuê ngoài so với trường hợp DN tự thực hiện. Beaumont và Sohal (2004) thì cho rằng nếu DN đã có đầy đủ mọi nguồn lực để thực hiện các hoạt động thì không cần thiết thuê ngoài cung ứng và ngược lại DN thuê ngoài sẽ tốt hơn.
Handley (2012) thì cho rằng quyết định thuê ngoài hay không ở DN còn phụ thuộc vào tính chất công việc, theo đó nếu những chức năng là cốt lõi, và đặc biệt quan trọng thì DN nên giữ lại, không nên chuyển giao cho các tổ chức/cá nhân bên ngoài thực hiện và ngược lại. Tóm lại, mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về thuê ngoài dịch vụ. Nhưng nhìn chung có thể hiểu thuê ngoài dịch vụ hay DVTN là việc một DN hay một tổ chức đi thuê các nguồn lực được cung ứng một cách chuyên nghiệp từ một hay nhiều tổ chức/cá nhân bên ngoài để họ thực hiện thay một phần hay toàn bộ các chức năng/các hoạt động của DN thông qua hợp đồng thoả thuận giữa các bên với nhau.2 Qui trình thuê ngoài Hình 2.1 Qui trình thuê ngoài dịch vụ Nguồn: Hale (2006) Bước 1: Xác định nhu cầu: được hiểu là yêu cầu, kỳ vọng về hiệu quả đem lại khi thuê ngoài. Nhu cầu thuê ngoài của DN phụ thuộc vào khả năng DN tự thực hiện và mức độ quan trọng của hoạt động.
10 Không thực hiện DN thực hiện tốt DN thực hiện tốt Giữ lại nhưng không cần thiết và chức năng quan trọng Mức độ thực hiện DN có thể thực hiện và cần thiết phải thực hiện Thuê nhưng DN không có thời gian ngoài Không DN không thực hiện tốt Thuê thực hiện và không cần thiết DN không thể thực hiện ngoài Mức độ quan trọng của các hoạt động Hình 2.2 Xác định nhu cầu thuê ngoài Nguồn: Hale (2006) Bước 2: Đánh giá năng lực của DN dựa trên cơ sở khả năng thực hiện các chức năng như nguồn lực nội bộ, kiến thức và kỹ năng liên quan, qui trình thực hiện công việc. Từ đó, xác định điểm mạnh và yếu của từng chức năng mà quyết định. Bước 3: Lựa chọn nhà cung ứng: Đây là bước quan trọng để quyết định lựa chọn nhà cung ứng phù hợp. Các tiêu chí khi lựa chọn nhà cung ứng là đáp ứng bản đề xuất thực hiện công việc cũng như đảm bảo chất lượng công việc, các tiêu chí về chi phí, phương thức thanh toán, dịch vụ đi kèm, thông tin nhà cung ứng.
Ngoài ra, các tiêu chí kinh nghiệm, năng lực về công nghệ, chuyên môn và mối quan hệ với nhà cung ứng dịch vụ cũng nhà những tiêu chí quan trọng để quyết định lựa chọn. Bước 4: Tiến hành ký hợp đồng thuê ngoài với bên cung ứng. Bước 5: Bắt đầu thực hiện hoạt động thuê ngoài khi hợp đồng đã được ký kết. Trong quá trình thực hiện thuê ngoài DN phải quản lý kế hoạch, giám sát để đảm bảo yêu cầu công việc.
Bước 6: Quản lý mối quan hệ với nhà cung ứng bao gồm chia sẻ đề xuất và mục tiêu cần đạt được để các bên liên quan thực hiện, đưa ra các tiêu chí đo lường và chế độ báo cáo của nhà cung ứng. Bước 7: Đánh giá hoạt động thuê ngoài dựa trên mục tiêu đề ra và kết quả thực hiện công việc của bên cung ứng dịch vụ để DN quyết định nên tiếp tục thực hiện thuê ngoài hay không, hoặc nên tiếp tục giữa mối quan hệ với nhà cung ứng hay không, hoặc có xem xét chiến lược trong tương lai.3 Các dịch vụ doanh nghiệp thuê ngoài phổ biến Trên thế giới hiện nay các dịch vụ được các DN thuê ngoài rất đa dạng. Trên cơ sở các nghiên cứu liên quan có thể cho thấy, ngoài công nghệ thông tin (như lắp đặt/quản trị mạng hoặc bảo trì máy tính/thiết bị văn phòng, thuê ngoài cơ sở dữ liệu), các DN còn chú trọng việc thuê ngoài nhân sự bán thời gian, thuê ngoài tư vấn quản lý và quản trị nhân sự, thuê dịch vụ tư vấn kinh tế - pháp luật – xây dựng cho DN, dịch vụ trả lương ngoài (Payroll Outsourcing), dịch vụ kế toán thuê ngoài, báo cáo thuế (Acccouting), dịch vụ khách hàng (Customer service), dịch vụ đào tạo, dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe (Health service), dịch vụ dọn dẹp văn phòng, bảo vệ 24/24, dịch vụ dịch thuật. Bên cạnh đó, thuê ngoài kho bãi, tài sản, máy móc, dịch vụ vận tải cũng là xu hướng được các DN lựa chọn.
Đối với các DN có hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu, và xuất nhập khẩu thì còn thuê ngoài dịch vụ logistics. Tại Việt Nam, các DN thuê ngoài các dịch vụ chủ yếu tập trung vào bốn lĩnh vực chính: (1) Thuê ngoài lao động: thấy được tầm quan trọng của hoạt động thuê ngoài, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ DN. Theo đó, Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời với quy định về việc cho thuê lại lao động.