CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Với sự phát triển nhanh chóng của các thị trường đầu tư sinh lời nói chung và thị trường tiền điện tử nói riêng, việc tìm hiểu và khai thác nguồn lợi từ đây là điều mà các nhà đầu tư trên toàn thế giới đều quan tâm. Tiền điện tử tạo nên một “cơn sốt” đầu tư với một mức siêu lợi nhuận chưa từng có đã thúc đẩy một làn sóng tham gia đầu tư không chỉ trên toàn thế giới mà còn cả ở Việt Nam chúng ta. Sức hút từ tiền điện tử đang ngày một lớn mạnh hơn rất nhiều, khi mà thị trường đón nhận ngày càng nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp, các ứng dụng và quỹ đầu tư chỉ chuyên về tiền điện tử.
Các sàn giao dịch tiền điện tử cũng xuất hiện ngày càng nhiều, với quy mô giao dịch cực kỳ lớn và năng động có thể kể đến như: Binance; Coinbase; Huobi Global… Tuy nhiên, đi cùng với khả năng sinh lời cực kỳ cao chính là một mức độ rủi ro cực kỳ lớn và rất khó đánh giá và dự đoán, bởi ở thị trường tiền điện tử, đồng Bitcoin có thể được xem như một người bảo lãnh, củng cố niềm tin của mọi người vào thị trường. Do đó, sự biến động của đồng Bitcoin cũng là một nguyên nhân chủ yếu tác động đến sự tăng giảm của các đồng tiền điện tử khác (Altcoin). Đặc biệt là thời gian gần đây, cụ thể là cuối tháng 11/2021, Bitcoin đã lập đỉnh giá cao nhất mọi thời đại ở mức 68. Thế nhưng ở hiện tại, Bitcoin đã dần hạ nhiệt và liên tục tạo đáy kỷ lục chỉ chưa đến vỏn vẹn vài tháng gần đây khiến nhiều nhà đầu tư dần mất lòng tin hơn về thị trường này.
Tuy vậy, nhiều nhà đầu tư cho rằng đây là thời điểm “vàng” để bắt đáy và nắm giữ các đồng tiền điện tử với mức giá thấp trước khi nó quay trở lại với quỹ đạo và khôi phục lại giá trị thực của nó. 11 Hình 1: Bảng giá Bitcoin trong vòng 1 năm trở lại đây Theo một cuộc thăm dò gần đây của NBC News cho thấy, cứ năm người trưởng thành trên toàn thế giới thì có một người đã đầu tư, giao dịch hoặc sử dụng tiền điện tử. Một dấu hiệu khác cũng cho thấy tiền điện tử ngày càng trở nên phổ biến ngay cả khi các nhà lập pháp cảnh báo về rủi ro thị trường và nỗ lực điều tiết ngành. Và một nửa nam giới trong độ tuổi từ 18 đến 49 cho biết họ đã tham gia vào tiền điện tử, chiếm tỷ lệ cao nhất trong tất cả các nhóm nhân khẩu học (Franck, T.
Riêng ở Mỹ, theo một cuộc khảo sát mới của trung tâm Nghiên cứu Pew, phần lớn những người trưởng thành ở Hoa Kỳ đã nghe nói một chút về tiền điện tử như Bitcoin hoặc Ether, và 16% nói rằng cá nhân họ đã đầu tư, giao dịch hoặc sử dụng chúng (Perrin, A. Bên cạnh đó, công nghệ Blockchain xoay quanh tiền điện tử cũng đang ngày một phát triển và chứng minh tính ứng dụng vô cùng cao trong hầu hết tất cả các lĩnh vực. Một số tính chất quan trọng của Blockchain có thể kể đến như tính phi tập trung và an toàn thông tin. Như ở một nghiên cứu của Zheng và cộng sự (2018) nêu rõ rằng, trong các hệ thống giao dịch truyền thống, mỗi giao dịch cần được xác nhận bởi một bên trung gian (chẳng hạn như là ngân hàng).
Tuy nhiên, khi áp dụng công nghệ Blockchain, các bên có thể truy cập vào cơ sở dữ liệu và kiểm tra lịch sử giao dịch mà không cần đến bên thứ ba (Tapscott, A. Khả năng bảo mật và minh bạch thông tin của Blockchain cũng rất ấn tượng, có thể hiểu như một sổ cái ghi chép lại tất cả hoạt động, 12 do đó, nếu một tổ chức tội phạm hay chính phủ có ý định lạm dụng mà không để bị phát hiện, họ phải thay đổi đồng thời tất cả các bản sao của Blockchain (Rennock, M. Tất cả những dẫn chứng trên đều cho thấy mức độ phổ biến của tiền điện tử cũng như sự đột phá trong tiện ích của công nghệ Blockchain đang ngày một trở thành một xu thế chung cho tương lai, khi mà có rất nhiều người đặt niềm tin vào thị trường tiền điện tử này kể cả khi nó không được bảo hộ và công nhận từ pháp luật đi chăng nữa. Với khả năng sinh lợi đáng ngưỡng mộ và độ phổ biến như thế.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, khi nhắc đến tiền điện tử thì hầu hết chúng ta vẫn chưa có cái nhìn tích cực và khách quan về lĩnh vực đầu tư này, đa phần họ sẽ nghĩ đến các dự án lừa đảo, đa cấp siêu lợi nhuận… Do vậy, họ vẫn giữ niềm tin vào các định chế tài chính cũng như các thị trường tài chính truyền thống hơn là một thị trường đầy rủi ro tiềm tàng như tiền điện tử. Chính vì thế, việc tiến hành một cuộc khảo sát đánh vào thị trường tiền điện tử - thị trường với tiềm năng sinh lời vô cùng lớn trong tương lai, với mục đích thay đổi cách quan điểm và góc nhìn của mọi người đối với tiền điện tử, cũng như phổ cập những kiến thức cần thiết để những nhà đầu tư cá nhân - chủ yếu là bộ phận giới trẻ tại TP.HCM có thể củng cố và tự tin hơn trước những ý định đầu tư của mình. Bài nghiên cứu của nhóm có bố cục như sau: đầu tiên nhóm bắt đầu bằng phần giới thiệu; sau đó đưa ra một số các lý thuyết nền tảng liên quan, thiếp lập mô hình nghiên cứu và xây dựng giả thuyết để làm nền tảng nghiên cứu; tiếp đến là sử dụng các phương pháp nghiên cứu và phân tích các kết quả thống kê được trình bày; cuối cùng là phần kết luận, đề xuất, hạn chế và hướng nghiên cứu sắp tới. Câu hỏi nghiên cứu của đề tài bao gồm: i.
Lợi ích kỳ vọng của nhà đầu tư cá nhân chịu tác động chủ yếu bởi những yếu tố nào? ii. Độ hiểu biết về thị trường của nhà đầu tư cá nhân chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi các yếu tố nào? iii. Những nhân tố nào thúc đẩy và tác động chủ yếu đến sự hình thành ý định đầu tư của cá nhân? 13 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu: Với sự bùng nổ và phổ biến đang ngày một tăng cao, đề tài hi vọng sẽ đóng góp những ý nghĩa thực tiễn và hữu ích cho các nhà đầu tư cá nhân trước những ý định đầu tư của bản thân vào thị trường tiền điện tử. Cụ thể là đưa ra những đề xuất, kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu sự tác động của các nhân tố đến ý định đầu tư.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá yếu tố “Nhận thức rủi ro” ảnh hưởng như thế nào đến “Lợi ích kỳ vọng” của cá nhân. Đánh giá các yếu tố “Nhận thức rủi ro”, “Ảnh hưởng xã hội” và “Đổi mới cá nhân” ảnh hưởng như thế nào đến “Độ hiểu biết” về thị trường tiền điện tử của cá nhân. Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố “Nhận thức rủi ro”, “Đổi mới cá nhân”, “Ảnh hưởng xã hội”, “Lợi ích kỳ vọng” và “Độ hiểu biết” đến “Ý định đầu tư” tiền điện tử của cá nhân. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 1.
Đối tượng, khách thể nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Bao gồm tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến “Lợi ích kỳ vọng” (“Nhận thức rủi ro”) và “Độ hiểu biết” (“Nhận thức rủi ro”, “Ảnh hưởng xã hội”, “Đổi mới cá nhân”). Đồng thời phân tích tác động của toàn bộ các nhân tố lên “Ý định đầu tư” của cá nhân. - Khách thể nghiên cứu: Người dân đang sinh sống và làm việc trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - chủ yếu là giới trẻ. Phạm vi nghiên cứu - Không gian nghiên cứu: Mẫu dữ liệu được thu thập một cách ngẫu nhiên và thu được 250 mẫu khảo sát tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thời gian nghiên cứu: Số liệu được thu thập vào giữa tháng 5 năm 2022 và quá trình nghiên cứu diễn ra từ ngày 11/5/2022 đến ngày 27/5/2022. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đã sử dụng hai phương pháp nghiên cứu là phương pháp thu thập thông tin và phương pháp xử lý dữ liệu. Phương pháp thu thập thông tin Phương pháp định lượng là phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong bài, và thang đo được thiết kế theo phương pháp định tính. Mẫu quan sát là người dân sinh sống trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Hình thức tiến hành khảo sát là các bảng câu hỏi được gửi thông qua các phương tiện như: Email, Zalo, Facebook… Đồng thời, phương pháp chọn mẫu phi xác suất (sự lựa chọn đặc tính của tổng thể và nhu cầu của điều tra) cũng được sử dụng nhằm thuận tiện cho quá trình thực hiện. Về kích thước mẫu nghiên cứu, theo Corney và cộng sự (1992), việc nghiên cứu có sử dụng phân tích nhân tố thì kích cỡ mẫu phù hợp nên theo công thức là n = 5m, với m là số quan sát trong bài. Ở đây là 22 nên kích cỡ mẫu tối thiểu của đề tài là 110. Đối với các đề tài nghiên cứu liên quan đến phân tích CFA, một số nhà nghiên cứu như Muthen và Muthen (2002) cho rằng để các biến chỉ báo được phân phối chuẩn và không có dữ liệu bị thiếu, cỡ mẫu hợp lý cho mô hình CFA đơn giản là khoảng N = 150.
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu còn cho rằng kích cỡ mẫu cần phải lớn hơn so với mức thông thường, ví dụ N = 200 (trong khi thông thường là 100 - 150 (Tabachnick, B., 2001) đối với việc phân tích SEM (Boomsma, A. Do đó, tổng cỡ mẫu của đề tài nghiên cứu là 250 mẫu nên đều đã đáp ứng những tiêu chí về mẫu phù hợp. Mẫu khảo sát được định dạng trên Google Forms nhằm cụ thể hóa những nhu cầu, quan điểm của người thực hiện khảo sát, dễ dàng truyền đạt ý định khảo sát đến với người tham gia khảo sát đối với vấn đề được đề cập. Kết quả cho ra 250 mẫu khảo sát hợp lệ được lấy làm dữ liệu đầu vào trong số tổng cộng 250 phiếu trả lời.