Chương 1), môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tốn tại và phát triển của con người và thiên nhiên. Bouliere (1971) : Môi trường là cái nơi trong đó chúng ta sống, cái nơi này không phải là một tổng số học của hàng chục, hàng trăm dân số, cái nơi sống này thật sự là một sự tổng hợp , một sự tổng hợp rất biến đổi. Sharma (1988) : Môi trường là tất cả những gì bao quanh con người. Xét trên phương điện giáo duc : Môi trường là toàn bộ thực tế xung quanh trong đó diễn ra sự phát triển của con người và sự hình thành nhân cách.
Vai trò và sự tác động của môi trường đến con người Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra những nhận định như trên. Vậy môi trường và con người có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và luôn có sự tác động qua lại. Môi trường, con người không ngừng vận động và biến đổi. - Môi trường là nơi con người sinh sống và phát triển.
+ Trong môi trường con người dù sống riêng rẽ hay cộng đồng đều cin một không gian để cư trú và tổn tại, luôn chịu sự chỉ phối của môi trường. Vd : Từ khi hình thành đến nay trái đất không ngừng trải qua những biến đổi. Mọi sình vật phải đấu tranh để thích nghỉ, để sinh tổn, tuy nhiên khá nhiều sinh vật không thể thích nghỉ phải tuyệt chủng. + Môi trường cung cấp cho con người nguồn vật chất, năng lượng cần thiết cho con người.
Không khí, độ ẩm, ánh sáng, lương thực, thực phẩm, nguyên - nhiên liệu. - SOOO OEE EE OEOLELEELEOOLEEL EDEL. SVTH : Nguyễn Thị Mỹ Hà Trang Š Luận văn tốt nghiệp. - Môi trường còn ảnh hưởng đến cả ngoại hình lẫn tính cách của con người.
Vd: Những người sống ở khu vực khí hậu nắng nóng mau da sậm hơn những người sống ở khí hậu lạnh. - Bên cạnh đó, con người lại tác động ngược trở lại môi trường một cách tích cực hoặc tiêu cực và ảnh hưởng đến môi trường và làm biến đổi nó do con người có khả năng tư duy trừu tượng, biết sáng tạo, tận dụng môi trường. - Môi trường còn là khung cảnh nơi đó con người lao động, nghỉ ngơi vui chơi của con người. + Lao động là nhu cầu thiết yếu của con người.
Để đảm bảo sức khỏe, mang lại năng suất, hứng thú say mê trong công việc thì con người trước hết phải được làm việc trong diéu kiện môi trường trong lành và trong môi trường làm việc thoải mái có sự vui vẻ giữa các đồng nghiệp. + Sau những ngày lao động con người cũng cẩn được nghỉ ngơi. Một môi trường thư giãn tốt là ; trong lành, có không gian, khung cảnh thiên nhiên đẹp. - Môi trường là nơi phát triển trí tuệ, thẩm my và những phẩm chất tốt đẹp của con người.
+ Về trí tuệ : Môi trường xung quanh giúp con người tiếp thu được nhiều tri thức, kinh nghiệm, kích thích sự tìm tòi khám phá từ đó có nhiều phát minh, phát hiện mới, khơi gợi sự sáng tạo. + Thiên nhiên là cơ sở giáo dục thẩm mỹ, phẩm chất tốt đẹp của con người. Vẻ đẹp thiên nhiên là nguồn cảm hứng của sáng tạo. Những tuyệt tác nghệ thuật của các thi sĩ, hoa sĩ, nhạc sĩ cũng phần lớn bắt nguồn từ vẻ đẹp của thiên nhiên.
Vì đứng trước một vẻ đẹp, nó tạo nên xúc cảm trong mỗi con người từ đó khơi gợi những xúc cảm thẩm mỹ thôi thúc con người nảy ra những ý tưởng, những sáng tạo. Con người yêu cái đẹp sẽ mong muốn giữ gìn, bảo vệ và tạo ra cái đẹp. Môi trường thẩm mỹ 3. Khái niệm - Thẩm mỹ : là hệ thống phạm trù triết học, là những thuộc tính cơ bản và nội tại tổn tại một cách khách quan trong sự vật, trong đời sống xã hội và cả trong thiên nhiên.
Đó là những phạm trù cái đẹp - cái xấu, cái hài - cái bi , cái cao cả - cái thấp hèn, cái anh hùng - cái đê tiện. Trong đó, cái đẹp được xem là trung tâm, chúng được phân thành các cặp tương phản, đối lập nhau nhưng cũng hết sức gần gũi và có thể chuyển hóa, bổ sung cho nhau. ore SVTH : Nguyễn Thị Mỹ Hà Trang 6 Luận văn tốt nghiệp arm.aaa da danas.saosasaassassassassssasssssssssssssGsssusususststxssnstsx dd si - Môi trường thẩm mỹ : là một khái niệm rất rộng. Môi trường thẩm mỹ có thể là nhân tạo cũng có thể là sự sắp đặt của tạo hóa có tác động gây ấn tượng thẩm mỹ cho con người.
Ở đây chỉ để tập môi trường thẩm mỹ trong phạm vi trường lớp mắm non. Tri giác Mẫu giáo nhé 4 - 5 tuổi trẻ wi giác các sự vật hiện tượng chưa kỹ lưỡng, chỉ tập trung vào những điểm nào nổi bật như màu sắc rực rỡ tươi sáng hoặc những cử chỉ chuyển động. gây ấn tượng sâu sắc. Nhưng đến mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi trẻ bất đầu có khả năng quan sát, tri giác sự vật một cách có hệ thống theo trình tự : Tổng - phân ~ tổng.
Trẻ tuổi này, tri giác không can tiếp xúc để cảm nhận trực tiếp ma cơ chế chuyển vào trong đã xuất hiện. Do đó trẻ có khả năng quan sát tốt sẽ dễ tiếp thu những kiến thức về sự vật hiện tượng. Cảm giác Ở tuổi mẫu giáo, cảm giác nhìn phát triển mạnh đặc biệt là sự lĩnh hội các chuẩn cảm giác (màu sắc, hình dạng, kích thước, thời gian) do đó nên tạo điều kiện cho trẻ phát triển bằng cách tạo cơ hội cho trẻ tiếp xúc nhiều với môi trường xung quanh. Điểu đó có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động tạo hình của trẻ.
5 - 6 tuổi, trẻ biết được gần như tất cả các màu sắc, về kích thước, biết ước lượng, đo. Trẻ mẫu giáo bé và nhỡ chỉ có biểu tượng về quan hệ độ lớn giữa 2 - 3 vật được tri giác đồng thời, lĩnh hội chuẩn hình dang, màu sắc một cách riêng lẻ, đến 5 ~ 6 tuổi chuyển sang lĩnh hội mối quan hệ và quan hệ giữa các chuẩn. Các biểu tượng về độ lớn phong phú hơn, có thể đối chiếu một vật với nhiều vật. Tất cả những biểu tượng đó trẻ được lĩnh hội trong quá trình hoạt động thực tiễn hàng ngày định hướng trong thế giới môi trường xung quanh trẻ.
CPE EOEPEEEEPELEECEEBECELECELELLELEBLLOCELELEELELLLELELELELELCEEECLLEELEELELELLLLL LE SVTH : Nguyễn Thị Mỹ Hà Trang 7 Luận văn tốt nghiệp ` LLL LLL LL EL LLL OEE | ~~. Trí nhớ Ở tuổi mẫu giáo, năng lực trí nhớ phát triển mạnh. Về cơ bản mang tính chất không chủ định. Trẻ ghi nhớ những cái gây ấn tượng và làm trẻ chú ý.
Ghi nhớ có chủ định hoàn thiện din ở mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi. Tuy nhiên ghi nhớ không chủ định vẫn còn chiếm ưu thế. Chất lượng nhớ cũng như độ chính xác, độ lâu bén của nó phát triển mạnh do người lớn đặt ra yêu cẩu cao ở trẻ và trẻ bất đầu biết sử dụng cơ chế liên tưởng và đặt ra mục đích để nỗ lực ghỉ nhớ. Tư duy Ở mẫu giáo bé, tư duy của trẻ là tư duy trực quan hành động.
Đến mẫu giáo nhỡ và đầu mẫu giáo lớn tư duy trực quan hình ảnh chiếm ưu thế, đến cuối tuổi mẫu giáo lớn tư duy trực quan sơ đổ bắt đầu phát triển mạnh (trực quan hình ảnh ở mức cao), hình ảnh ở đây không còn là hình ảnh thật của sự vật mà nó chi giữ lại nét mang tính khái quát. Trẻ 5 - 6 tuổi, thao tác tư duy khái quát hóa phát triển rất mạnh. trẻ nhìn thấy được đặc điểm, mối quan hệ bên trong của sự vật hiện tượng. Trẻ được tích cực tiếp xúc với môi trường xung quanh sẽ kích thích trẻ tò mò, khám phá, tích cực sử dụng các giác quan giúp cơ quan cảm giác phát triển, khả năng cảm nhận của trẻ nhanh chóng, chính xác, biểu tượng trẻ thu được sinh động cụ thể, trong quá trình này trẻ thực hành các thao thác : quan sắt, so sánh, phân tích, tổng hợp qua đó tư duy trẻ phát triển.
Tưởng tượng Trẻ mẫu giáo bé và nhỡ tưởng tưởng tái tạo chiếm ưu thế Ví dụ : Trẻ chỉ vẽ lại những con vật quen thuộc mà trẻ từng vẽ : con gà, con mèo. Đến mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi, tưởng tượng tái tạo phát triển rất mạnh và tưởng tượng sáng tạo bắt dau phát triển. Trẻ 3 - 4 và 4 ~ 5 tuổi, tưởng tượng không chủ định, phụ thuộc vào cảm xúc, vui thì trẻ tưởng tượng còn không thì thôi. Nhưng trẻ 5 - 6 tuổi, tưởng tượng sáng tạo phát triển mạnh và có chủ định, tầm nhận thức hiểu biết mở rộng nên có nhiều vấn để trẻ đặt ra những thắc mắc kích thích trí tưởng tượng tạo tiểnđể thúc đẩy sự sáng tao.
Độ tuổi này trẻ tưởng tượng không chỉ lúc trẻ tri giác mà trẻ đã có thể tưởng tượng ngầm trong đầu. Trí tưởng tượng của trẻ rất phong phú ngộ nghĩnh, nó không COLE OOOO POOP nh nh REO OEE. - SVTH : Nguyễn Thị My Hà Trang 8 Luận văn tốt nghiệp xxx sxsnsnsi .ưưưxkx~~ th s6 si bị sự chỉ phối bởi tri thức khoa học như người lớn. Những gì gây cho trẻ sự thắc mắc, chưa giải thích được trí tưởng tượng sẽ giải đáp cho trẻ qua đó kích thích trẻ nảy sinh những sáng tạo Ul.
SỰ PHÁT TRIỂN Ý CHÍ, CHÚ Ý, XÚC CẢM - TINH CẢM CUA TRE 5 ~ 6TUỔI 1. Ý chí Tuổi mẫu giáo, ý chí xuất hiện như là sự điều khiển có ý thức đối với hành vi, những hành động bên ngoài và bên trong. Ở trẻ hình thành khả năng điều khiển những hành động của mình để đat được một mục đích. Ở mẫu giáo bé, hành vi hầu như bộc phát, chỉ có ở mẫu giáo lớn trẻ mới có thể có những nỗ lực ý chí tương đối sâu, tuy nhiên vẫn còn phụ thuộc nhiều vào xúc cảm tình cảm.
Do đó, nó vẫn chưa thật sự bển vững. Chú ý Trẻ chú ý có đặc điểm không chủ định và kéo đài tới 5 - 6 tuổi. Trẻ chú ý những đối tượng khi đối tượng gây một kích thích mạnh hoặc một sự ngạc nhiên nhất là tạo cho trẻ sự hứng thú. Tuy nhiên, khả năng chú ý đã phát triển trên nên tảng tính chủ động, biết hướng vào ý thức của mình về các đối tượng.