Mở đầu, Kết luận và Danh mục lài liệu tham khả0, kết cấu luận văn gồm 03 chojong mhoy sau: chơjơng 1: Khái quái hợp lác Đông Á: trình sày về vị trí địa lý,lình hình kinh lế xã hội và quá trình hình thành của hợp lác Đông Á (ASEATI+3). 13 chojong 2: Vai tro cua GMS tr0ng hop tac Déng A: trình sày về quá trình hình thành hợp tác Tiéu ving MekOng mở rộng (GMS), vai rd cia GMS tr0ng hợp lác Đông Á và ảnh hơtởng của các nojớc lớn đối với hợp tác GMS. chơjơng 3: Đánh giá về GMS và Đông Á, vai lrò của GMS tr0ng hop tac Đông Á và dự sáO: đánh giá về vai trò của GMS, doja ra mot sé kịch bản về hợp lác Đông Á và dự sá0 về vai trò của GMS tr0ng loJơng lai. 14 chŒ|ƠNG 1: KhAI QUAT VE hỢP TÁc ĐÔNG Á 1.cơ sở lý luận và cơ sơ thực Hễn của hợp lác khu vực 1.
Khái niệm về hội nhập khu vực The0 cách hiểu phổ siến hiện nay, hội nhập là một quá trình kết hợp giữa các quốc gia riêng rẽ và0 một chính thế nhất định, đó cũng là quá trình thiết lập các cầu lrúc chung mới và thề chế hóa các quan hệ giữa các quốc gia. hội nhập là mội lrạng thái của một chính thể mới với cơ cấu, luật lệ riêng hình thành thé chế liên quốc gia. The0 đó, khi tham gia và0 một chủ thê mà0 đó, các quốc gia phải chấp nhận nhojờng một phần chủ quyền quốc gia và thực thi các luật lệ, thé chế, chuẩn mực của chính thê đó. hình thức và mức độ hội nhập đơjợc thực hiện với các mức độ khác nhau trên các phạm vi đơn phoIơng, sOng phojong va da phojong (iểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và †0àn cầu).
Ở mức độ đơn phoJơng, mỗi quốc gia ty mình thực hiện những biện pháp mở cửa, tr dO hoa †r0ng những lĩnh vực nhất định có mục liêu cụ thề chứ không nhất thiết phải tuân thủ những quy định của các định ché, lô chức kinh tế mà họ tham gia. Ihơi vậy, mỗi nojớc tự tìm c0n đơiờng riêng để lự thích nghi với môi lrolờng hội nhập quốc lế, chủ động lạ0 môi trolờng kinh lế, chính trị, văn hóa — xã hội và thể chế phù hợp với quá trình hội nhập s0ng phoJơng và đa phoJơng mà quốc gia đó cam kết. hội nhập quốc lễ sa0 gồm nhiều mức độ. Đầu liên là hội nhập về kinh lế, sau đó là hội nhập về chính trị, hội nhập an ninh — quốc phòng và hội nhập về văn hóa — xã hội.
các quốc gia tham gia hội nhập về cơ sản phải trai qua các solớc hội nhập từ thấp đến ca0. Việc đốt cháy giai đ0ạn chỉ có thé diễn ra Ir0ng những điều kiện đặc thù nhất định mà thôi (chẳng hạn cộng đồng Kinh lế châu Âu đã đồng thời thực hiện xây dựng khu vực mậu dịch ty d0 và liên minh thuế quan lr0ng những thập niên 60-70). hội nhập kinh lế là nền tang hét sức quan trọng ch0 sự lồn lại bền vững của hội nhập lr0ng các lĩnh vực khác, đặc siệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, đơiợc các nojớc oỊu liên thúc đây giống nhơi một đòn sây ch0 hợp lác và phát triển lr0ng sối cảnh 10am cau hóa. 15 hội nhập kinh lế quốc lễ nằm lr0ng khái niệm hội nhập, là sự kết nối các nền kinh lế khác nhau, với những đặc trong khác nhau, hình thành lừng sơjớc hệ thống kinh lế liên quốc gia với mức độ khác nhau.
Đây là quá trình gắn kết nền kinh lế và thị trơjờng của lừng ngiớc với kinh lế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự đ0 hóa và mở cửa 6 cdc cap dé don phojong, sOng phojong va da phojong. D0 đó, sản chất của hội nhập là chủ động tham gia và0 quá lrình 10am cau hoa va khu vực hóa. hội nhập kinh lế sa0 gồm 5 cấp độ: Khu vực thgơng mại qu đãi (PTA): có chính sách thuế quan oỊu đãi một phần ch0 nhau; Khu vực thgơng mại tw do (FTA): các thành viên dỡ sỏ lất cả hàng rà0 thuế quan và phi thuế quan đối với nhau; Liên minh thuế quan: các khu vực thơjơng mai tu dO mà các thành viên áp dụng chung chính sách thuế quan đối với các nojớc không phải là thành viên; Thi teqong chung: ty dO hoa dòng hàng hóa và các yếu lô sản xuất nhơi la0 động, vốn; Liên minh kinh té: thị trolờng chung và các chính sách hài hòa ca0 kết hợp với các thể chế chung !0àn khu vực để điều phối và thực hiện các biện pháp chính sách kinh lế và hội nhập. hợp lác khu vực là quá trình thông qua đó hai hay nhiều nojớc the0 đuổi mục đích hOặc mục liêu phát triển chung thông qua các h0ạt động chung, phối hợp chung và đồng bộ.
hợp lác khu vực thojờng sa0 gồm các h0ại động hợp tac the0 từng nội dung cụ thể với các chojong trình và dự án tr0ng vùng. choJơng trình hợp lác khu vực là lập hợp các lầm nhìn, mục liêu, chiến lơiợc và các nguyên lắc định hojớng ch0 các hành vi và h0ại động của các quốc gia tham gia chơlơng trình h0ặc khuôn khô hợp lác đó. Dự án kinh lê khu vực là dự án sa0 gồm hai hay nhiều quốc gia m0ng muốn thực hiện nhằm dat dojgc mục đích phát triển chung thông qua các h0ại động chung h0ặc còng phối hợp vì mục liêu, kết quả chung. hội nhập kinh lế khu vực đơxợc điều phối bởi thị lrolờng đhị trơờng lớn hơn và tra0 đôi nhiều hơn, lăng cojờng thoJơng mại có thể không cần đến thỏa thuận về thojong mai) va dojoc dan dắt bởi chính sách thông qua các thỏa thuận hợp lác AFTA, FTA (các nojớc đồng ý dỡ sỏ hàng rà0 thuế quan đối với hàng hóa và dịch vụ.
16 hội nhập quốc lế là một quá trình phái triển tất yếu, d0 sản chất xã hội của la0 động và quan hệ giữa cŨn ngojời. Sự ra đời và phái triển của kinh lế thị trojờng cũng là động lực hàng đầu thúc đây quá trình hội nhập. hội nhập diễn ra dojới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, the0 liến trình từ thấp đến ca0. hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc lế và đời sống của lừng quốc gia.
IIgày nay, hội nhập quốc lế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia dé phat trién. Thuật ngữ “hội nhập quốc lế” tr0ng lếng Việt có nguồn gốc lừ liếng nơjớc ngÖài (ếng Anh là “imernal0nal inlegral0n”, tiếng Pháp la “imtégratiOn 1nernah0nale”). Day là một khái niệm đojợc sử dụng chủ yếu trOng các lĩnh vực chính trị học quốc lế và kinh lế quốc lế, ra đời lừ kh0ảng giữa thế kỷ trojdc & châu Âu, tr0ng bối cảnh những ngơjời the0 trojờng phái thể chế chủ lroơng thúc đầy sự hợp lác và liên kết giữa các cựu thù (Đức-Pháp) nhằm tránh nguy cơ lái diễn chiến tranh thề giới thông qua việc xây dựng cộng đồng châu Âu. Trên thực lế ch0 đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm “hội nhập quốc 1é”.
Tựu chung, có sa cách liếp cận chủ yếu sau: cách liếp cận thứ nhất, thuộc về lroiờng phái the0 chủ nghĩa liên sang, ch0 rằng hội nhập (inlegrali0n) là một sản phẩm cuối còng hơn là một quá trình. Sản phẩm đó là sự hình thành một Ilhà nơiớc liên sang kiểu nhơi h0a Kỳ hay Thụy Sỹ. Để đánh giá sự liên kết, những ngojời the0 lrojờng phái này quan lâm chủ yếu tới các khía cạnh luật định và thê chế. cách liếp cận thứ hai, với Karl W.
Deulsch — giá0 sơi kh0a học chính trị ngojời Mỹ - là trụ cội, xem hội nhập lrojớc hết là sự liên kết các quốc gia thông qua phát triển các luồng gia0 loiu who thojong mai, đầu toy, tho tin, thông tin, du lich, di trú, văn hóa. lừ đó hình thành dần các cộng đồng an ninh (securily c0mmunily). The0 Deulsch, có hai lOại cộng đồng an ninh: l0ại cộng đồng an ninh hợp nhất nhơi kiểu h0a Kỳ, và l0ại cộng đồng an ninh đa nguyên nhơi kiểu Tây Âu. Ihoi vậy, cách liếp cận thứ hai này xem xé! hội nhập vừa là một quá trình vừa là một sản phẩm cuối còng.
cách liếp cận thứ sa xem xét hội nhập dojới góc độ là hiện †oJợng/hành vi các 17 nojớc mở rộng và làm sâu sắc hóa quan hệ hợp lác với nhau lrên cơ sở phân công la0 động quốc lế có chủ đích, dựa và0 lợi thé của mỗi nojớc và mục liêu the0 đuổi. cách liếp cận thứ nhất có nhiều hạn chế vì nó không đặt hiện lojợng hội nhập lr0ng quá trình phái triển mà chỉ nhìn nhận hiện lojợng này (chủ yếu về khía cạnh luật định và thể chế) tr0ng trạng thai lĩnh cuối cùòng gắn với mô hình Hhà ngiớc liên sang. cách liếp cận này khó áp dụng để phân lích và giải thích thực Hễn của quá trình hội nhập diễn ra với nhiều hình thức và mức độ khác nhau nhợi hiện nay lrên thế giới. Không phải bất cứ sự hội nhập nà0 cũng dẫn đến một IThà ngjớc liên sang.
cách liếp cận thứ hai có điểm mạnh là nhìn nhận hiện lơợng hội nhập vừa lr0ng quá trình liến triển vừa lr0ng trang thái lĩnh cuối cùng, đồng thời đơia ra đo|ợc những nội dung khá cụ thể và sát thực liễn của quá trình hội nhập, góp phần phân tích và giải thích nhiều vấn đề của hiện lơjợng này. cách liếp cận thứ sa lập trung và0 hành vi của hiện lolợng, không quan lâm xem xét góc độ thê chế cũng nhơt kết quả cuối còng của hội nhập, d0 vậy, thiếu tính l0àn diện và hạn chế †r0ng khả năng giải thích sản chất của quá trình hội nhập. Ở Việt Ham, thuật ngữ „hội nhập kinh lế quốc tế” sắt đầu đoợc sử dụng lừ khOang giữa thập niên 1990 còng với quá lrình Việt Ilam gia nhập ASEAII, tham gia Khu vực mậu dịch tự d0 ASEAH (AFTA) và các thể chế kinh lế khu vực và quốc lễ khác. IIhững năm gần đây, cụm từ “hội nhập quốc lế” (thậm chí nói ngắn gọn là “hội nhập”) đojợc sử dụng ngày càng phổ biến hơn và với hàm nghĩa rộng hơn hội nhập kinh lế quốc lé.
co mot thuc tién dang lou ý là lrojớc khi thuật ngữ “hội nhập kinh lế quốc tế” doje doja vad sit dung, tr0ng liếng Việt đã xuất hiện các cụm từ “liên kết kinh lế quốc 46” va “mhat thề hóa kinh lế quốc lế”. cả sa thuật ngữ này thực ra đơiợc sử dụng đề chỉ còng một khái niệm mà liếng Anh gọi là “inernali0nal ec0n0mic inleprali0n”.