Luận án tiến sĩ nhiễm human papillomavirus trên bệnh nhân bị nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục và tác dụng của cimetidin trong phòng tái phát bệnh sùi mào gà

Nghiên cứu về nhiễm human papillomavirus ở bệnh nhân lây truyền qua đường tình dục và tác dụng của cimetidin trong phòng tái phát sùi mào gà.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Da liễu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2015

170
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Lịch sử phát hiện HPV

1.2. Virus sinh u nhú ở người – HPV (Human Papilloma virus)

1.2.1. Phân loại Virus sinh u (Papillomavirus)

1.2.2. Những týp HPV thuộc chi alpha

1.3. Các HPV thuộc chi beta

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán

2.3. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.4. Tiêu chuẩn loại trừ

2.5. Trang thiết bị, vật liệu nghiên cứu

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.6.1. Thiết kế, cỡ mẫu nghiên cứu

2.6.2. Các bước tiến hành

2.6.3. Xử lí và phân tích số liệu

2.6.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.6.5. Đạo đức nghiên cứu y học

2.6.6. Hạn chế đề tài

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Tỉ lệ nhiễm và các týp HPV

3.1.1. Đặc điểm cá nhân của nhóm nghiên cứu

3.1.2. Tỉ lệ nhiễm HPV

3.1.3. Mối liên quan giữa nhiễm HPV với các yếu tố nguy cơ

3.1.3.1. Mối liên quan giữa nhiễm HPV với tuổi quan hệ tình dục lần đầu
3.1.3.2. Mối liên quan giữa nhiễm HPV với số bạn tình
3.1.3.3. Mối liên quan giữa nhiễm HPV với thuốc lá
3.1.3.4. Mối liên quan giữa nhiễm HPV với việc dùng bao cao su
3.1.3.5. Mối liên quan giữa nhiễm HPV với thuốc ngừa thai
3.1.3.6. Mối liên quan giữa nhiễm HPV với số lần mang thai
3.1.3.7. Mối liên quan giữa nhiễm HPV với kiểu quan hệ tình dục
3.1.3.8. Mối liên quan giữa nhiễm HPV với tiền sử STIs
3.1.3.9. Mối liên quan giữa nhiễm HPV với nhiễm CT và HSV

3.1.4. Hiệu quả của Cimetidin trong phòng ngừa tái phát sùi mào gà

3.1.4.1. Đặc điểm xã hội học của nhóm nghiên cứu
3.1.4.2. Các vị trí tổn thương
3.1.4.3. Mức độ tổn thương theo diện tích
3.1.4.4. Mức độ tổn thương theo vị trí giải phẫu
3.1.4.5. Hội chứng tiết dịch kèm theo
3.1.4.6. Các bệnh STDs kèm theo
3.1.4.7. Số lần điều trị bằng laser CO2
3.1.4.8. Tác dụng phụ khi uống cimetidin
3.1.4.9. Kết quả điều trị sau 3 tháng
3.1.4.10. Kết quả điều trị sau 6 tháng
3.1.4.11. Kết quả điều trị sau 12 tháng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Tỉ lệ nhiễm HPV và những týp HPV trên bệnh nhân nghiên cứu

4.1.1. Đặc điểm cá nhân của nhóm nghiên cứu

4.1.2. Tỉ lệ nhiễm HPV

4.1.3. Mối liên quan giữa tỉ lệ nhiễm HPV và các yếu tố liên quan

4.1.3.1. Tuổi và mối liên quan với nhiễm HPV
4.1.3.2. Tuổi quan hệ tình dục lần đầu và mối liên quan với HPV
4.1.3.3. Số lượng bạn tình và mối liên quan với HPV
4.1.3.4. Mối liên quan giữa việc hút thuốc lá và nhiễm HPV
4.1.3.5. Mối liên quan giữa thói quen dùng bao cao su và nhiễm HPV
4.1.3.6. Mối liên quan giữa thuốc ngừa thai và nhiễm HPV
4.1.3.7. Mối liên quan giữa số lần mang thai và nhiễm HPV
4.1.3.8. Mối liên quan giữa kiểu quan hệ tình dục, tiền sử STIs, nhiễm Chlamydia Trachomatis và Herpes simplex 2 với nhiễm HPV

4.2. Hiệu quả của cimetidin trong phòng tái phát bệnh sùi mào gà sinh dục

4.2.1. Đặc điểm xã hội học của đối tượng nghiên cứu

4.2.2. Vai trò của laser CO2 trong điều trị bệnh sùi mào gà

4.2.3. Hiệu quả của cimetidin trong phòng tái phát bệnh sùi mào gà sinh dục

KẾT LUẬN

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

KIẾN NGHỊ

NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của cimetidin trong điều trị nhiễm HPV

Nhiễm Human Papillomavirus (HPV) là một trong những vấn đề y tế nghiêm trọng hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh bệnh sùi mào gà và ung thư cổ tử cung. Cimetidin, một loại thuốc thường được sử dụng trong điều trị các bệnh dạ dày, đã được nghiên cứu về tác dụng điều hòa miễn dịch của nó. Nghiên cứu cho thấy cimetidin có thể giúp giảm tỉ lệ tái phát bệnh sùi mào gà, một trong những biểu hiện lâm sàng phổ biến của nhiễm HPV. Việc hiểu rõ về cơ chế tác động của cimetidin có thể mở ra hướng đi mới trong điều trị nhiễm HPV.

1.1. Cimetidin và cơ chế tác động trong điều trị HPV

Cimetidin hoạt động bằng cách ức chế thụ thể histamin H2, từ đó làm giảm tiết acid dạ dày. Tuy nhiên, tác dụng chính của nó trong điều trị nhiễm HPV là thông qua việc điều hòa hệ miễn dịch. Nghiên cứu cho thấy cimetidin có khả năng kích thích sản xuất interferon, một loại protein có vai trò quan trọng trong việc chống lại virus. Điều này giúp cơ thể tăng cường khả năng chống lại nhiễm HPV và giảm nguy cơ tái phát.

1.2. Tình hình nhiễm HPV và sự cần thiết điều trị

Tỉ lệ nhiễm HPV đang gia tăng trên toàn cầu, đặc biệt ở những người có nhiều bạn tình hoặc có tiền sử nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục. Việc điều trị hiệu quả không chỉ giúp giảm triệu chứng mà còn ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng như ung thư cổ tử cung. Cimetidin, với tác dụng điều hòa miễn dịch, có thể là một lựa chọn điều trị hiệu quả cho bệnh nhân nhiễm HPV.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị nhiễm HPV

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị nhiễm HPV, nhưng tỉ lệ tái phát vẫn cao. Các phương pháp điều trị hiện tại như đốt điện, phẫu thuật, hay laser chỉ giải quyết triệu chứng mà không ngăn ngừa hoàn toàn sự tái phát. Điều này đặt ra thách thức lớn cho các bác sĩ trong việc tìm kiếm giải pháp điều trị hiệu quả hơn. Cimetidin có thể là một giải pháp tiềm năng, nhưng cần có thêm nhiều nghiên cứu để khẳng định hiệu quả và độ an toàn của nó.

2.1. Tỉ lệ tái phát bệnh sùi mào gà

Tỉ lệ tái phát bệnh sùi mào gà sau điều trị hiện nay lên tới 30-50%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các phương pháp điều trị bổ sung nhằm giảm thiểu nguy cơ tái phát. Cimetidin, với khả năng điều hòa miễn dịch, có thể giúp giảm tỉ lệ này.

2.2. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến nhiễm HPV

Nhiều yếu tố nguy cơ như số lượng bạn tình, thói quen tình dục không an toàn, và tình trạng sức khỏe miễn dịch yếu có thể làm tăng nguy cơ nhiễm HPV. Việc nhận diện và quản lý các yếu tố này là rất quan trọng trong việc điều trị và phòng ngừa nhiễm HPV.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động của cimetidin trong điều trị HPV

Nghiên cứu về tác động của cimetidin trong điều trị nhiễm HPV được thực hiện thông qua các thử nghiệm lâm sàng. Các bệnh nhân được chia thành hai nhóm: nhóm điều trị bằng cimetidin và nhóm đối chứng. Các chỉ số như tỉ lệ tái phát, triệu chứng lâm sàng và phản ứng miễn dịch được theo dõi và đánh giá. Kết quả từ nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin quan trọng về hiệu quả của cimetidin trong điều trị nhiễm HPV.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thiết kế ngẫu nhiên, có đối chứng, với sự tham gia của các bệnh nhân nhiễm HPV đã được chẩn đoán. Các tiêu chí lựa chọn bệnh nhân bao gồm độ tuổi, tình trạng sức khỏe và tiền sử bệnh lý. Điều này đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

3.2. Phân tích dữ liệu và kết quả

Dữ liệu thu thập từ các bệnh nhân sẽ được phân tích bằng các phương pháp thống kê hiện đại. Kết quả sẽ được so sánh giữa nhóm điều trị bằng cimetidin và nhóm đối chứng để đánh giá hiệu quả của cimetidin trong việc giảm tỉ lệ tái phát bệnh sùi mào gà.

IV. Ứng dụng thực tiễn của cimetidin trong điều trị HPV

Cimetidin không chỉ là một loại thuốc điều trị dạ dày mà còn có tiềm năng trong điều trị nhiễm HPV. Việc sử dụng cimetidin có thể giúp giảm tỉ lệ tái phát bệnh sùi mào gà, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Các bác sĩ có thể xem xét cimetidin như một phần trong phác đồ điều trị cho bệnh nhân nhiễm HPV.

4.1. Kết quả điều trị sau 3 tháng sử dụng cimetidin

Kết quả điều trị sau 3 tháng cho thấy nhóm bệnh nhân sử dụng cimetidin có tỉ lệ tái phát thấp hơn so với nhóm đối chứng. Điều này cho thấy cimetidin có thể đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa tái phát bệnh sùi mào gà.

4.2. Tác dụng phụ và an toàn của cimetidin

Mặc dù cimetidin có nhiều lợi ích, nhưng cũng cần lưu ý đến các tác dụng phụ có thể xảy ra. Các nghiên cứu cho thấy cimetidin thường được dung nạp tốt và ít gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng, điều này làm tăng tính khả thi của nó trong điều trị nhiễm HPV.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về cimetidin và HPV

Nghiên cứu về tác động của cimetidin trong điều trị nhiễm HPV mở ra hướng đi mới trong việc quản lý bệnh. Cimetidin có thể là một lựa chọn điều trị hiệu quả, giúp giảm tỉ lệ tái phát bệnh sùi mào gà. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để khẳng định hiệu quả và an toàn của cimetidin trong điều trị nhiễm HPV. Tương lai của nghiên cứu này có thể dẫn đến những thay đổi trong phác đồ điều trị cho bệnh nhân nhiễm HPV.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc xác định cơ chế tác động của cimetidin trong điều trị nhiễm HPV. Điều này sẽ giúp hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của thuốc và tối ưu hóa phác đồ điều trị.

5.2. Tầm quan trọng của việc phòng ngừa nhiễm HPV

Bên cạnh việc điều trị, việc phòng ngừa nhiễm HPV cũng rất quan trọng. Các biện pháp như tiêm vaccine HPV và giáo dục sức khỏe tình dục cần được đẩy mạnh để giảm thiểu tỉ lệ nhiễm HPV trong cộng đồng.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nhiễm human papillomavirus trên bệnh nhân bị nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục và tác dụng của cimetidin trong phòng tái phát bệnh sùi mào gà

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm HPV (Human Papillomavirus - virus gây u nhú ở ngƣời) hiện nay là một trong những vấn đề thời sự y học do mối liên quan đến bệnh sùi mào gà sinh dục, ung thƣ cổ tử cung - một căn bệnh gây tử vong hàng thứ hai ở phụ nữ và các loại ung thƣ đƣờng hậu môn - sinh dục khác [1], [2], [3]. Ngoài ra, một số týp HPV còn liên quan đến các bệnh ung thƣ da không hắc tố [4], [5], [6]. Virus gây u nhú ở ngƣời có gần 200 týp, tuy nhiên, không phải tất cả đều gây triệu chứng lâm sàng. Có khoảng 30-40 týp HPV lây nhiễm qua quan hệ tình dục, trong đó một số týp HPV có thể dẫn đến ung thƣ cổ tử cung, âm hộ, âm đạo, hậu môn ở nữ giới và ung thƣ dƣơng vật, hậu môn ở nam giới [4], [7], [8].Về khả năng gây ung thƣ, HPV đƣợc chia thành 2 nhóm: nhóm nguy cơ cao (HR) và nhóm nguy cơ thấp (LR) [7].

Nhiễm HPV nguy cơ cao nhƣ HPV 16, 18 liên tục có thể tiến triển thành các thƣơng tổn tiền ung thƣ và ung thƣ xâm lấn. Theo thống kê từ nhiều nghiên cứu trên thế giới ở phụ nữ, hơn 90% các trƣờng hợp ung thƣ cổ tử cung đều có sự hiện diện của HPV nguy cơ cao [9], [10], [11]. Đối với nam giới, nguyên nhân gây ung thƣ dƣơng vật chính xác hiện nay chƣa đƣợc biết rõ, nhƣng nhiễm HPV đƣợc xem là yếu tố cảnh báo đầu tiên [12], [13]. Nhiều nghiên cứu ở Mỹ từ năm 1973 đến 2000 cho thấy tần suất mắc ung thƣ hậu môn gia tăng ở nam (16%) và nữ (78%) và nhiễm HPV là một nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh lí này [12], [14].

Các nghiên cứu tìm hiểu tình hình nhiễm HPV trên thế giới hiện nay tập trung chủ yếu trên nữ giới vì mối liên quan của nó đến ung thƣ cổ tử cung. Tỉ lệ nhiễm HPV ở nữ từ một phân tích tổng hợp của 78 nghiên cứu trên toàn thế giới nói chung là 10% và týp thƣờng gặp nhất là 16 và 18. Bên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 cạnh đó, tác giả Anna R. Giuliano công bố trong bản tóm tắt về dịch tễ học nhiễm HPV nam giới toàn cầu, thì tỉ lệ này ở trong khoảng từ 0 đến 73%.

Và tỉ lệ nhiễm HPV và sự phân bố các týp nguy cơ khác nhau tùy thuộc vào vùng địa lí và dân cƣ [3], [10]. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên thƣờng thực hiện ở cộng đồng, tỉ lệ này ở nữ thƣờng dƣới 15% và ở nam dƣới 20%. Trái lại, ở những đối tƣợng mắc các nhiễm trùng qua đƣờng tình dục (STIs) hay có bất thƣờng tế bào học ở cổ tử cung thì tỉ lệ nhiễm HPV lại cao hơn [1], [3]. Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất trong sự lây truyền HPV sinh dục đó là số bạn tình và lƣợng ngƣời có quan hệ tình dục với những bạn tình đó, ngoài ra, các nhiễm trùng đồng thời ở đƣờng sinh dục cũng đã đƣợc báo cáo liên quan đến sự tồn tại HPV dai dẳng cũng nhƣ sự giảm khả năng đào thải HPV [7].

Do vậy, những phụ nữ thuộc nhóm có nguy cơ cao bao gồm những phụ nữ có STIs, gái mại dâm …hay nam giới có nhiều bạn tình và có quan hệ tình dục đồng giới thƣờng tỉ lệ nhiễm HPV cao và sự tồn tại HPV lâu hơn. Một trong những biểu hiện lâm sàng da liễu phổ biến do nhiễm HPV nguy cơ thấp đó là bệnh sùi mào gà. Đây là một bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục thƣờng gặp nhất, với tỉ lệ tái phát sau điều trị cao. Hơn nữa, các phƣơng pháp điều trị chủ yếu làm sạch thƣơng tổn nhƣ bôi thuốc, đốt điện, phẫu thuật, laser.

mà không ngăn ngừa hoàn toàn sự tái phát. Những tiến bộ mới trong y học cho ra đời nhiều thuốc điều hòa miễn dịch giúp giải quyết vấn đề này nhƣng giá thành tƣơng đối cao và ngƣời bệnh tại nƣớc ta khó tiếp cận. Qua nhiều nghiên cứu trong hai thập niên gần đây về các tác dụng của cimetidin trong chuyên ngành da liễu trên thế giới, chúng tôi nhận thấy cimetidin có tác dụng điều biến miễn dịch, giá thành thấp và dễ sử dụng với tác dụng phụ trong giới hạn cho phép, có thể ứng dụng trong điều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 trị phối hợp với các phƣơng pháp khác nhằm ngăn ngừa bệnh sùi mào gà tái phát. Chính vì tính phổ biến và phức tạp của nhiễm HPV cũng nhƣ các hậu quả mà HPV gây ra, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhiễm Human Papillomavirus trên bệnh nhân bị nhiễm trùng lây truyền qua đƣờng tình dục và tác dụng của cimetidin trong phòng tái phát bệnh sùi mào gà” Với các mục tiêu sau: 1.

Xác định tỉ lệ nhiễm và các týp HPV trên bệnh nhân mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục. Khảo sát mối liên quan giữa tình trạng nhiễm HPV với các yếu tố nguy cơ. Đánh giá hiệu quả của cimetidine trong phòng tái bệnh phát sùi mào gà. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Lịch sử phát hiện HPV Hạt cơm thƣờng ở da đƣợc biết từ thời Hy Lạp và Roma cổ đại, nhƣng cho đến những năm đầu thế kỉ 20 thì hạt cơm sinh dục cũng chỉ đƣợc cho là một dạng của bệnh giang mai hay bệnh lậu [15]. Năm 1907, Ciuffo chứng minh bản chất của virus [16]. Năm 1922, Lewandosky và Lutz báo cáo bệnh loạn sản thƣợng bì dạng hạt cơm [16] Năm 1966, Crawford đã giải mã cấu trúc bộ gen HPV [8]. Năm 1972, tại Ba Lan, Stefania Jablonska đề cập mối liên quan giữa HPV với ung thƣ da trong bệnh loạn sản thƣợng bì dạng hạt cơm [11].

Năm 1976, bốn týp HPV đầu tiên đƣợc xác định là căn nguyên gây ra hạt cơm (bàn chân: HPV 1,2; phẳng: HPV 3, mụn cóc: HPV 4) [16]. Cũng trong năm này, Harald zur Hausen đã đƣa ra giả thiết vai trò của HPV trong căn nguyên của ung thƣ cổ tử cung. Năm 1978, Jablonska và Gerard Orth phát hiện HPV5 trong bệnh EV[11]. Còn hạt cơm sinh dục (sùi mào gà) đã đƣợc các nhà khoa học chứng minh là do HPV 6 gây ra năm 1980 [15].

Năm 1983 và 1984, Harald zur Hausen và cộng sự đã chứng minh sự hiện diện của HPV 16, 18 trong ung thƣ cổ tử cung [11], [17], [18]. Năm 1999, kết quả xét nghiệm PCR cho thấy sự hiện diện DNA của HPV trong 99.7% mẫu ung thƣ cổ tử cung đƣợc nghiên cứu [10],[11].2 Virus sinh u nhú ở ngƣời – HPV (Human Papillomavirus) Human Papillomavirus (HPV) là loài virus sinh u nhú chứa vật liệu di truyền DNA, có ái tính mạnh với biểu mô, đặc biệt là biểu mô gai lát tầng ở da và niêm mạc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Phân loại Virus sinh u (Papillomavirus) trƣớc đây đã đƣợc phân nhóm Polyomavirus và virus chứa không bào thuộc giống khỉ trong họ Papovaviridae. Tuy nhiên, hiện nay theo ủy ban quốc tế về phân loại virus, Papillomavirus đƣợc xem nhƣ là một họ riêng biệt của Papillomaviridae [4], [8], [19].

Năm 1995, tại hội thảo quốc tế về Papillomavirus (PV) ở Quebec, các nhà khoa học đã thống nhất về cách phân loại và chẩn đoán HPV, trong đó sự phân nhóm HPV đƣợc dựa trên mức độ tƣơng đồng DNA trong những chuỗi nhất định của bộ gen virus [4], [8], [19]. Một týp HPV mới đƣợc công nhận nếu toàn bộ bộ gene đã đƣợc sao chép có trình tự DNA của khung đọc mở L1 có sự khác biệt hơn 10% so với các loại PV đƣợc biết đến gần nhất. Sự khác biệt từ 2% đến 10% tƣơng đồng sẽ xác định phân nhóm và nếu ít hơn 2% thì đó là một biến thể [4], [7], [20]. Cho đến nay, có khoảng hơn 100 týp HPV đã đƣợc mô tả bộ gen tƣơng đối hoàn chỉnh.

Với hiểu biết hiện nay, HPV đƣợc phân thành 5 genera - chi bao gồm alpha, beta, gamma, mu, nu. Những týp HPV đóng vai trò quan trọng nhất đối với y học là các týp có nguy cơ gây ung thƣ sinh dục hoặc ung thƣ biểu mô niêm mạc thuộc các chi alpha [4], [7].1: Những týp HPV thuộc chi alpha [7] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Các HPV thuộc chi beta bao gồm các týp HPV ở da. Trƣớc đây các týp này đƣợc biết đến nhƣ týp gây bệnh loạn sản thƣợng bì dạng hạt cơm (epidermodysplasia verruciformis-EV) do HPV chủ yếu đƣợc phân lập từ các tổn thƣơng da ở những bệnh nhân bị bệnh hiếm gặp này. Các chi còn lại chủ yếu là PV của các loài động vật khác nhau [4], [7].

Ngoài ra, HPVs có thể đƣợc phân loại thành týp HPVs niêm mạc và HPVs da. Khoảng gần 100 týp HPV khác nhau đã đƣợc định danh thể hiện sự ái tính mô đặc trƣng. Nhóm HPV da (1, 4, 5, 8, 41, 48, 60, 63, 65) thƣờng phân lập đƣợc từ các tổn thƣơng hạt cơm da và lòng bàn chân, bệnh loạn sản thƣợng bì dạng hạt cơm và các tổn thƣơng da trên bệnh nhân suy giảm miễn dịch sau ghép tạng, một số khối u biểu mô. Nhóm HPV niêm mạc (6, 11, 13, 44, 55, 16, 31, 20, 35, 52, 58, 67, 18, 39, 45, 59, 68, 70, 26, 51, 69, 30, 53, 56, 66, 32, 42, 34, 64, 73, 54) đƣợc tìm thấy trong những tổn thƣơng lành tính cũng nhƣ ác tính ở ống sinh dục hậu môn cả nam và nữ.

Đôi khi những týp virus này đƣợc phân lập từ mô và tổn thƣơng ở khoang miệng, hầu họng, thanh quản và thực quản. HPV niêm mạc đƣợc phân thành nhóm nguy cơ cao và thấp theo khả năng gây ung thƣ [21]. Cấu trúc HPV HPVs thuộc loại virus trần, có sức đề kháng rất mạnh, cấu tạo là khối hình cầu với hai mƣơi mặt (T =7) đối xứng, đƣờng kính 55-60 nm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Cấu trúc HPV Genome virus mã hóa cho khoảng bảy đến chín khung đọc mở phụ thuộc vào phân nhóm virus, các khung đọc mở này đều nằm trên chuỗi DNA.

Genome này đƣợc phân thành 2 vùng: vùng mã hóa và vùng không mã hóa, còn đƣợc gọi là vùng kiểm soát dài (LCR) và vùng điều hòa thƣợng nguồn (URR) [4], [20]. Vùng kiểm soát dài mã hóa protien đầu (early – E) bao gồm các gen từ E1-E7 và protein cuối (late – L) gồm L1 và L2. Các vùng LCR/URR rất quan trọng trong việc điều hòa sự biểu hiện toàn bộ gen của HPVs vì chứa các chất hoạt hóa cũng nhƣ các chuỗi gen hỗ trợ quá trình sao mã. Các protein đầu E1 và E2 thực hiện việc sao mã và nhân lên của virus.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ