Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 9310105) của tác giả Trần Thị Thu Huyền, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Huy Đức, tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và tăng trưởng năng suất lao động xã hội tại Việt Nam.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Giai đoạn 1995–2018, năng suất lao động xã hội (NSLĐXH) của Việt Nam có sự cải thiện liên tục, từ mức ban đầu tăng lên 102,2 triệu đồng/lao động vào năm 2018 (gấp 13,4 lần năm 1995). Dù vậy, theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới tính theo ngang giá sức mua (PPP 2011), NSLĐXH của Việt Nam năm 2018 vẫn ở mức thấp so với khu vực: chỉ tương đương 7,3% mức năng suất của Singapore; 19% của Malaysia; 37% của Thái Lan; 44,8% của Indonesia và 55,9% của Philippines. Khoảng cách tuyệt đối giữa Việt Nam và các quốc gia tiếp tục gia tăng (chênh lệch với Singapore năm 2018 lên tới 132.276 USD; Malaysia là 42.545 USD). Về cơ cấu kinh tế, tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ đạt 83,7% GDP vào năm 2018, tiệm cận mục tiêu 85% đặt ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011–2020. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là làm rõ chuyển dịch cơ cấu ngành đóng góp như thế nào vào tăng trưởng NSLĐXH, đặc biệt khi các công trình trước đây chủ yếu xem xét khía cạnh cơ cấu lao động mà thiếu vắng sự đánh giá toàn diện về cơ cấu sản lượng cũng như chưa kết hợp đồng thời mô hình hạch toán tăng trưởng với mô hình kinh tế lượng.
Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng NSLĐXH ở Việt Nam giai đoạn 1995–2018 thông qua mô hình hạch toán tăng trưởng và mô hình kinh tế lượng, từ đó đề xuất khuyến nghị chính sách đến năm 2030. Các mục tiêu cụ thể gồm:
- Hoàn thiện cơ sở lý luận về ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tới tăng trưởng NSLĐXH.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và tăng trưởng NSLĐXH ở Việt Nam giai đoạn 1995–2018.
- Xây dựng mô hình kinh tế lượng đánh giá ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tới tăng trưởng NSLĐXH ở Việt Nam.
- Đo lường ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng NSLĐXH ở Việt Nam thông qua hai mô hình định lượng.
- Đề xuất định hướng và khuyến nghị chính sách nhằm chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng thúc đẩy NSLĐXH ở Việt Nam tăng trưởng nhanh và bền vững đến năm 2030.
Luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Chuyển dịch cơ cấu ngành ảnh hưởng đến tăng trưởng năng suất lao động xã hội theo cơ chế nào?
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995–2018 diễn ra như thế nào?
- Chuyển dịch cơ cấu ngành có ảnh hưởng đến tăng trưởng năng suất lao động xã hội ở Việt Nam giai đoạn 1995–2018 không? Nếu có thì ảnh hưởng như thế nào?
- Khuyến nghị nào về chính sách góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam theo hướng thúc đẩy NSLĐXH tăng trưởng hiệu quả, bền vững trong giai đoạn đến năm 2030?
Đối tượng nghiên cứu là ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành (cơ cấu lao động và cơ cấu sản lượng) đến tăng trưởng NSLĐXH. Phạm vi không gian gồm cấp ngành, cấp vùng và cấp quốc gia (phân tích kinh tế lượng thực hiện trên 63 tỉnh/thành phố). Phạm vi thời gian đối với cấp ngành và quốc gia là 1995–2018; đối với cấp tỉnh và cấp vùng là 2011–2018. Luận án phân tích 20 ngành kinh tế cấp 1 theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg (loại trừ ngành Hoạt động của các tổ chức và cơ quan quốc tế do thiếu dữ liệu liên tục và tỷ trọng không đáng kể). Do hệ thống ngành thay đổi vào các năm 1993, 2007 và 2018, dữ liệu 20 ngành được chuẩn hóa thành hai phân kỳ: 1995–2006 và 2007–2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu quốc tế chỉ ra nền tảng lý luận khởi nguồn từ Schumpeter (1929) và Kuznets (1930, 1977) về việc phân bổ lại nguồn lực sang các ngành có năng suất cao hơn nhằm thúc đẩy tăng trưởng năng suất. Fabricant (1942) đặt nền móng cho việc phân tích chuyển dịch lao động liên ngành. Lewis (1954) với mô hình hai khu vực giải thích sự chuyển dịch lao động dư thừa từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại. Fei và Ranis (1964) phát triển mô hình ba giai đoạn khắc phục hạn chế của Lewis bằng việc đưa vào yếu tố thị trường hàng hóa và chỉ số giá. Baumol (1967, 1989) nghiên cứu mô hình hai ngành, phân biệt ngành tiến bộ (công nghiệp, dịch vụ kỹ thuật) và ngành có năng suất trì trệ. Fagerberg (2000) chỉ ra vai trò công nghệ làm thay đổi mối liên kết giữa cơ cấu sản lượng và việc làm trong nửa cuối thế kỷ XX. Anders Isaksson (2009) so sánh sự dịch chuyển nguồn lực nội ngành và liên ngành tại các nhóm nước. Dani Rodrik (2012) và ILO (2014) nhấn mạnh hai con đường tăng năng suất: nội ngành và chuyển dịch sang các ngành có giá trị gia tăng cao hơn.
Về phương pháp đo lường, phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng (Shift-Share Analysis - SSA) của Fabricant (1942) được Bart van Ark (1995) phát triển thành hai cấu phần tác động "tĩnh" và "động", áp dụng cho 8 nước Tây Âu giai đoạn 1950–1990. Timmer và Szirmai (2000) nghiên cứu ngành chế tạo tại Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan. Lakhwinder Singh (2004) áp dụng cho Hàn Quốc; Peneder (2001) nghiên cứu khối OECD; Fonfria và cộng sự (2005) nghiên cứu Tây Ban Nha; Bartelsman, Haltiwanger và Scarpetta (2004) tại Anh và Tây Âu; Huber và cộng sự (2005) tại các nước CEEC; Ark và Timmer (2003), Timmer và Vries (2008), McMillan và Rodrik (2011) nghiên cứu trên tập mẫu đa quốc gia. Phương pháp kinh tế lượng được áp dụng bởi Carree (2002) tại 20 nước OECD; Jagannath Mallick (2015, 2017) so sánh Ấn Độ và Trung Quốc; Lilis Siti Badriah và cộng sự (2017) tại Indonesia; Pariboni và Tridico (2019) tại 25 quốc gia EU.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu sử dụng SSA gồm: Nguyễn Thị Tuệ Anh (2007, 2015) giai đoạn 1991–2006 và 2008–2013; Nguyễn Thị Lan Hương (2011) giai đoạn 1986–2009; Trần Thọ Đạt và Nguyễn Thị Cẩm Vân (2015) giai đoạn 1995–2014; Hồ Đình Bảo (2015) giai đoạn 2005–2014; Giang Thanh Long và cộng sự (2015) cho 9 nhóm ngành giai đoạn 2001–2012; Vũ Thị Thu Hương và Nguyễn Thị Minh (2016); Vũ Hoàng Ngân và cộng sự (2016) giai đoạn 1996–2016. Hầu hết các công trình này chỉ đo lường cơ cấu lao động qua SSA. Nghiên cứu của Lê Huy Đức (2019) đã đề xuất phương pháp phân rã tăng trưởng NSLĐ thành 7 cấu phần dựa trên cơ cấu sản lượng giai đoạn 2000–2016, nhưng số liệu còn rời rạc theo các năm công bố bảng I-O (2000, 2007, 2012, 2016).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định bao gồm:
- Về lý luận: Đa số công trình chỉ tiếp cận chuyển dịch cơ cấu theo lao động, chưa kết hợp cơ cấu sản lượng để phản ánh chất lượng tăng trưởng và nguồn gốc tăng năng suất.
- Về thực tiễn và phương pháp: Thiếu vắng nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam kết hợp đồng thời mô hình hạch toán tăng trưởng (cho cả chuỗi dữ liệu hàng năm) và mô hình kinh tế lượng dữ liệu mảng để đo lường tác động của cả hai loại cơ cấu ở cấp ngành, cấp vùng và cấp tỉnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các khái niệm nền tảng:
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế: Là sự biến đổi tỷ trọng và mối quan hệ tương tác giữa các ngành theo thời gian (Nguyễn Văn Phát, 2004; Ngô Doãn Vịnh, 2005; Ngô Thắng Lợi, 2012; Nguyễn Chí Bình, 2014).
- Thước đo chuyển dịch: Sự thay đổi tỷ trọng ngành $\Delta S_i = S_i(t_1) - S_i(t_0)$, với tỷ trọng ngành $S_i(t) = [N_i(t) / N(t)] \times 100$. Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu ngành được lượng hóa qua hệ số góc véc-tơ $\operatorname{Cos} \phi$ và chỉ số:
$$n = \frac{\phi^\circ}{90^\circ} \times 100$$
- Năng suất lao động xã hội: Mức NSLĐXH được xác định theo tỷ lệ giữa tổng sản phẩm trong nước và tổng số lao động làm việc bình quân:
$$LP = \frac{\mathrm{GDP}}{\bar{L}}$$
Mức tăng năng suất: $\Delta LP = LP_1 - LP_0$; tốc độ tăng: $g_{LP} = (LP_1 - LP_0) / LP_0$.
- Các nhân tố ảnh hưởng tới NSLĐXH: Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế; tăng cường trang bị vốn; phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; chất lượng lao động; thể chế và chính sách.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính: Tổng hợp, phân tích tài liệu; phương pháp so sánh xu hướng chuyển dịch và năng suất qua các thời kỳ, giữa các ngành và các vùng; phương pháp thống kê mô tả.
- Phương pháp định lượng:
- Mô hình hạch toán tăng trưởng: Sử dụng phương pháp SSA để phân tích đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động (tách thành hiệu ứng nội ngành, hiệu ứng tĩnh và hiệu ứng động). Sử dụng phương pháp phân rã của Lê Huy Đức (2019) dựa trên cơ cấu giá trị sản xuất (GTSX - GO) và giá trị gia tăng (GTGT - VA) để tách tăng trưởng NSLĐ thành 7 cấu phần.
- Mô hình kinh tế lượng: Xây dựng hai mô hình hồi quy dữ liệu mảng (hồi quy Pooled OLS, mô hình tác động cố định FEM, mô hình tác động ngẫu nhiên REM) cho 63 tỉnh/thành phố giai đoạn 2011–2018. Sử dụng các kiểm định đa cộng tuyến, kiểm định lựa chọn mô hình và kiểm định Davidson - MacKinnon.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Viện Năng suất Việt Nam (VNPI), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Ngân hàng Thế giới và ILO. Phần mềm xử lý: STATA.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tới tăng trưởng NSLĐXH và các phương pháp đo lường thực nghiệm (SSA, kinh tế lượng). Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu về lý luận (chưa kết hợp cơ cấu sản lượng) và thực tiễn (thiếu mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động ở cấp địa phương tại Việt Nam).
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng năng suất lao động xã hội
Chương này làm rõ cơ sở lý luận về cơ cấu ngành, chuyển dịch cơ cấu ngành, các thước đo tỷ trọng, hệ số Cos $\phi$, khái niệm và thước đo NSLĐXH. Tác giả phân tích cơ chế tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu sản lượng đến NSLĐXH, vai trò của chuỗi giá trị và lợi thế so sánh. Chương 2 thiết lập khung phân tích, giới thiệu công thức mô hình hạch toán tăng trưởng (phương pháp SSA và phương pháp phân rã 7 cấu phần) cùng cấu trúc hai mô hình kinh tế lượng dữ liệu mảng.
Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và tăng trưởng năng suất lao động xã hội ở Việt Nam
Tác giả phân tích số liệu thứ cấp giai đoạn 1995–2018. Cơ cấu kinh tế có sự thay đổi rõ rệt: tỷ trọng nhóm ngành nông nghiệp giảm, công nghiệp và dịch vụ tăng. Cơ cấu GTSX, cơ cấu GTGT và cơ cấu lao động của 20 ngành kinh tế cấp 1 được thống kê chi tiết. Mức NSLĐXH tăng từ mức thấp năm 1995 lên 102,2 triệu đồng/lao động năm 2018, tuy nhiên khoảng cách tuyệt đối so với các nước trong khu vực tiếp tục nới rộng.
| Chỉ tiêu / Nhóm ngành |
Năm 1995 |
Năm 2018 |
Ghi chú xu hướng |
| Mức NSLĐXH toàn nền kinh tế |
7,6 triệu đ/lao động |
102,2 triệu đ/lao động |
Tăng gấp 13,4 lần |
| Tỷ trọng GDP Công nghiệp & Dịch vụ |
Dưới 75% |
83,7% |
Tiến gần mục tiêu 85% |
| Tỷ trọng nhóm Nông nghiệp |
Chiếm mức cao |
Giảm mạnh |
Chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH |
| Tỷ lệ NSLĐXH Việt Nam so với Singapore (PPP 2011) |
- |
7,3% |
Chênh lệch 132.276 USD |
| Tỷ lệ NSLĐXH Việt Nam so với Malaysia (PPP 2011) |
- |
19,0% |
Chênh lệch 42.545 USD |
| Tỷ lệ NSLĐXH Việt Nam so với Thái Lan (PPP 2011) |
- |
37,0% |
Khoảng cách tiếp tục tăng |
Chương này cũng tính toán tốc độ chuyển dịch cơ cấu sản lượng bình quân, tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động bình quân và so sánh với tốc độ tăng trưởng NSLĐXH của 20 ngành kinh tế cấp 1.
Chương 4: Phân tích định lượng ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành đến tăng trưởng năng suất lao động xã hội ở Việt Nam
Chương 4 trình bày các phát hiện định lượng:
- Đóng góp qua mô hình hạch toán:
- Mô hình SSA: Bóc tách đóng góp tĩnh và động của chuyển dịch cơ cấu lao động theo 20 ngành giai đoạn 1995–2018. Hiệu ứng nội ngành đóng vai trò nền tảng; hiệu ứng chuyển dịch tĩnh có đóng góp dương khi lao động chuyển dịch sang các ngành có năng suất cao hơn.
- Mô hình phân rã sản lượng: Đánh giá biến động tỷ lệ GTGT (VA/GO) và tốc độ tăng GTSX của 20 ngành. Đóng góp của yếu tố tăng GTSX/lao động chiếm tỷ trọng lớn, trong khi chuyển dịch cơ cấu sản lượng và biến động tỷ lệ GTGT có những giai đoạn tạo lực cản.
- Kết quả từ mô hình kinh tế lượng:
- Thực hiện hồi quy dữ liệu mảng cho 63 tỉnh/thành phố giai đoạn 2011–2018 với hai mô hình riêng biệt (Mô hình 1 cho cơ cấu lao động, Mô hình 2 cho cơ cấu sản lượng).
- Kiểm định mô hình: Thực hiện ma trận tương quan, kiểm định đa cộng tuyến, kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS, FEM và REM, kiểm định Davidson - MacKinnon.
- Kết quả ước lượng chỉ ra chuyển dịch cơ cấu lao động có ảnh hưởng cùng chiều đến tăng trưởng NSLĐXH, trong khi chuyển dịch cơ cấu sản lượng có ảnh hưởng ngược chiều (mức độ ảnh hưởng của cả hai đều ở mức nhỏ).
- Ước lượng theo vùng kinh tế: Ảnh hưởng tích cực của chuyển dịch cơ cấu ngành tới tăng NSLĐXH đạt mức cao nhất tại vùng Đồng bằng sông Hồng, trong khi tại vùng Tây Nguyên biến chuyển dịch cơ cấu không có ý nghĩa thống kê.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Chương 5 đúc kết các phát hiện nghiên cứu, chỉ rõ hạn chế của luận án và đưa ra hệ thống giải pháp:
- Xác lập 4 định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn đến năm 2030.
- Đề xuất 6 nhóm khuyến nghị chính sách nhằm tối ưu hóa phân bổ nguồn lực lao động và sản lượng, nâng cao giá trị gia tăng nội địa.
- Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo dựa trên các giới hạn dữ liệu gặp phải.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Làm rõ cơ chế ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành đến tăng trưởng NSLĐXH thông qua sự phân bổ lại lao động từ ngành có NSLĐ thấp sang ngành có NSLĐ cao hơn.
- Bổ sung lý luận tăng trưởng NSLĐXH theo cách tiếp cận của kinh tế phát triển: Thay đổi cơ cấu sản xuất theo hướng gia tăng tỷ trọng các ngành có tỷ lệ GTGT cao và có tốc độ tăng tỷ lệ GTGT cao là điều kiện thúc đẩy NSLĐXH tăng trưởng nhanh và bền vững.
- Bổ sung cơ sở lý thuyết về giải pháp nâng cao NSLĐ trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế: Tập trung phát triển các ngành có chất lượng tăng trưởng cao (tỷ lệ GTGT cao), có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và tiếp cận công nghệ mới.
- Gợi mở tư duy chuyển dịch cơ cấu ngành trong thời đại công nghệ số theo hướng "đi tắt, đón đầu" thay vì chỉ dựa vào quá trình chuyển dịch tuần tự, truyền thống.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Lượng hóa cụ thể chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành đến tăng trưởng NSLĐXH ở 3 cấp độ: cấp ngành, cấp vùng và cấp quốc gia.
- Phát hiện thực nghiệm cho thấy chuyển dịch cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu sản lượng tác động trái chiều đến tăng trưởng NSLĐXH tại Việt Nam: Chuyển dịch cơ cấu lao động có ảnh hưởng cùng chiều, còn chuyển dịch cơ cấu sản lượng có ảnh hưởng ngược chiều, dù quy mô ảnh hưởng ở mức nhỏ.
- Xác định các ngành có đóng góp lớn nhất từ chuyển dịch cơ cấu vào tăng trưởng NSLĐXH giai đoạn 1995–2018: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; xây dựng; bán buôn, bán lẻ; hoạt động ngân hàng, tài chính và bảo hiểm; hoạt động tư vấn và kinh doanh bất động sản.
- Chỉ ra sự khác biệt tác động giữa các vùng kinh tế giai đoạn 2011–2018: Chuyển dịch cơ cấu ngành phát huy tác động tích cực lớn nhất tại vùng Đồng bằng sông Hồng, nhưng chưa thể hiện tác động đến tăng NSLĐXH tại vùng Tây Nguyên.
- Xây dựng 4 định hướng chuyển dịch và 6 khuyến nghị chính sách phục vụ hoạch định kinh tế - xã hội đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án bị giới hạn ở cấp độ phân ngành kinh tế cấp 1 (20 ngành), chưa thể đi sâu phân tích chuyển dịch nội bộ bên trong từng ngành cấp 1 (ngành cấp 2 hoặc cấp 3) do tính không đồng nhất của hệ thống phân loại ngành qua các thời kỳ (1993, 2007, 2018). Số liệu về cơ quan, tổ chức quốc tế phải loại trừ do thiếu hụt thông tin. Ngoài ra, chuỗi số liệu kinh tế lượng cấp tỉnh và cấp vùng mới dừng lại ở giai đoạn 2011–2018.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất:
- Mở rộng phân tích chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ từng ngành kinh tế cấp 1 khi hệ thống số liệu thống kê chi tiết hóa ở các phân ngành cấp 2, cấp 3.
- Cập nhật chuỗi dữ liệu bảng cấp tỉnh sau năm 2018 nhằm kiểm chứng tính ổn định của các hệ số hồi quy trong bối cảnh các biến động kinh tế mới.
- Tiếp tục hoàn thiện các mô hình đo lường đa biến kết hợp thêm các yếu tố về đổi mới công nghệ số và thâm dụng vốn chuyên sâu.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế học ứng dụng: Cung cấp khung lý thuyết kết hợp giữa phương pháp hạch toán tăng trưởng (SSA, phân rã 7 cấu phần) và phương pháp kinh tế lượng số liệu mảng động bằng phần mềm STATA.
- Các nhà hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế Trung ương, cơ quan thống kê): Giá trị tham khảo nằm ở phần phân tích định lượng thực trạng 20 ngành kinh tế và sự phân hóa giữa các vùng kinh tế, giúp định hình các chính sách tái cơ cấu kinh tế, phân bổ nguồn lực lao động và chuyển dịch cơ cấu sản lượng giai đoạn đến năm 2030.
Câu hỏi thường gặp
1. Mức năng suất lao động xã hội của Việt Nam năm 2018 đạt bao nhiêu và chênh lệch thế nào so với khu vực?
Năm 2018, NSLĐXH của Việt Nam đạt 102,2 triệu đồng/lao động, tăng gấp 13,4 lần so với năm 1995. Tuy nhiên, tính theo chuẩn PPP 2011 của Ngân hàng Thế giới, mức này chỉ bằng 7,3% của Singapore; 19% của Malaysia; 37% của Thái Lan; 44,8% của Indonesia và 55,9% của Philippines. Khoảng cách tuyệt đối với Singapore lên tới 132.276 USD.
2. Luận án phân tích bao nhiêu ngành kinh tế và phân chia giai đoạn như thế nào?
Luận án nghiên cứu 20 ngành kinh tế cấp 1 theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg, loại trừ ngành Hoạt động của các tổ chức và cơ quan quốc tế. Do hệ thống ngành của Việt Nam thay đổi vào các năm 1993, 2007 và 2018, dữ liệu 20 ngành được phân chia thành hai giai đoạn để đảm bảo tính so sánh: 1995–2006 và 2007–2018.
3. Kết quả mô hình kinh tế lượng chỉ ra điểm đặc thù gì về tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu sản lượng?
Kết quả ước lượng thực nghiệm cho thấy chuyển dịch cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu sản lượng tác động theo hai chiều hướng trái ngược nhau: Chuyển dịch cơ cấu lao động có ảnh hưởng cùng chiều, trong khi chuyển dịch cơ cấu sản lượng có ảnh hưởng ngược chiều tới tăng trưởng NSLĐXH ở Việt Nam, dù mức độ ảnh hưởng của cả hai biến đều ở mức nhỏ.
4. Những ngành kinh tế nào đóng góp lớn nhất từ chuyển dịch cơ cấu vào tăng trưởng NSLĐXH giai đoạn 1995–2018?
Các ngành có đóng góp lớn bao gồm: Công nghiệp chế biến chế tạo; Xây dựng; Hoạt động bán buôn, bán lẻ; Hoạt động ngân hàng, tài chính và bảo hiểm; Hoạt động tư vấn và kinh doanh bất động sản.
5. Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành đến NSLĐXH có đồng đều giữa các vùng kinh tế không?
Giai đoạn 2011–2018, ảnh hưởng có sự phân hóa rõ nét giữa các vùng: Chuyển dịch cơ cấu ngành tác động tích cực lớn nhất tới tăng trưởng NSLĐXH tại vùng Đồng bằng sông Hồng, nhưng lại không có ý nghĩa thống kê đối với tăng trưởng NSLĐXH tại vùng Tây Nguyên.
Kết luận
Luận án của tác giả Trần Thị Thu Huyền đã phân tích toàn diện ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng năng suất lao động xã hội tại Việt Nam giai đoạn 1995–2018. Thông qua sự kết hợp giữa mô hình hạch toán tăng trưởng và mô hình kinh tế lượng dữ liệu mảng, công trình đã lượng hóa được tác động cùng chiều của chuyển dịch cơ cấu lao động và tác động ngược chiều của chuyển dịch cơ cấu sản lượng ở cấp quốc gia, cấp ngành và cấp vùng. Các kết quả thực nghiệm là căn cứ khoa học cho việc đề xuất 4 định hướng và 6 khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng năng suất và giá trị gia tăng bền vững đến năm 2030.