CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỀN 1.L Quan niệm về sự thỏa mãm 'Theo Eisenblatt (2002), hải lòng, thỏa mãn. hay mãn nguyện lả một trang thải cảm xúc thỏa mãn có thể được xem là trạng thái tỉnh thắn, có thể có được từ sự thoái mái trong tình huồng, cơ thể vả tâm trí của một người. Nỏi một cách thông thường, sự thỏa mãn có thể lâ một trang thái chấp nhận hoản cảnh của một người và là một hình thức hạnh phúc nhẹ nhàng và dự kiến hơn. Theo Oliver (1997), sự thóa mãn là mức độ của trạng thái cám giác của một người bắt nguồn tử việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của người đó.
Nó được xem xét ở ba mức độ: nếu kết quả nhận được ít hơn mong đợi thì chủ thể sử dụng dịch vụ sẽ cám thấy không thóa mãn. Còn nếu kết quả dịch vụ bằng mức mong đợi thi chủ thể sử dụng dịch vụ sẽ thóa man va hon nữa, ết quả dịch vụ. nề nhân được nhiều hơn mong đơi thì chủ thẻ sử dụng dịch vụ sẽ rất thỏa mãn vả thích thú với dịch vụ đó. Quan niệm về sự thỏa mãn trong công việc Dinh nghia cla Robert Hoppock (1935, trích dẫn bởi Seott et al., 1996) là một trong những định nghĩa đầu tiên về sự thỏa mãn công việc và được trích dẫn nhiều nhất từ trước đến nay.
Tác giả cho rằng, sự thỏa mãn trong công việc nói chung không phải chỉ đơn thuần là tổng cộng sự thỏa mãn của các khía cạnh khác nhau. mà sự thỏa mãn trong công việc nói chung có thể được xem như một biến riêng biệt. Ông cũng cho. rằng sự thỏa mãn trong công việc được đo lường bằng hai các đo lường sự thóa mãn.
trong công việc nói chung và đo lường sự thỏa mãn trong công việc ở các khia cạnh khác nhau liên quan đến công việc. sự thỏa mãn trong công việc có thể được xem như là một cấu trúc đa chiều, bao gồm sự nhìn nhận của người lao động đổi với tình hình nội bộ vả các tác đông thay đổi từ bên ngoài của công việc (Misener et al., 1996, trích trong Mehmet et al. Đối với nghiên cửu nảy, sự thỏa mãn công việc được xem xét bao gồm: sự 7 thỏa mãn tổng thể của người lao động với công việc nói chung vả các khia cạnh của công việc. Mức độ thôa mãn chung trong công việc Hiện nay có nhiều định nghĩa về sự thỏa mãn trong công việc: Theo Lee (2007), định nghĩa sự thỏa mãn trong công việc là trạng thái ma người lao đông cảm nhận và thỏa mãn khi thực hiện công việc có mục tiêu và định hướng hiệu quá rõ rằng.
Ông cũng cho rằng sự thóa mãn trong công việc được tác động bởi 03 yếu. tố kết hợp: phương tiên làm việc, sự đãi ngô từ thành quả lao động trong tổ chức vả giá trị kỳ vọng từ công việc. sự thỏa mãn của người lao động lả mức độ yêu thích công việc hay cổ gắng duy trì trạng thái làm việc của người lao đông. ‘Theo Robbins va Judge (2013) cho rằng sự thỏa mãn công việc được định nghĩa là một cảm nhận tích cực về kết quả của một công việc đến từ sự đảnh giá các đặc điểm của công việc đỏ.
Theo Hoppock (1935), sự thỏa mãn công việc là sự kết hợp của mỗi trưởng làm việc, tâm lý và hoàn cảnh sinh lý tác đông đến người lao động trong quá trình thực hiện công việc. Sự thỏa mãn công việc nói chung được xem là trạng thải cảm xúc do sự đánh giá, thái độ của người lao động trong quả trình thực hiện công việc hay kết quả công việc mang lại. ‘Theo Vroom (1964) định nghĩa rằng thỏa mãn trong công việc lả trạng thải mà người lao động cỏ khả năng định hưởng hiệu quả rõ rằng đối với công việc trong tổ chức và thực sự căm thấy thich thú đối với công việc của minh. Theo Weiss (1967) kết luận rằng thỏa mãn trong công việc là thái độ về công việc được thể ện bằng cám nhận, niễm tin và hành vĩ của người lao động.
Bên cạnh đó, Smith et al. (1969) khái niệm về sự thỏa mãn trong công việc là thái đô, sự ảnh hướng hay ghi nhận của người lao động vẻ các khia cạnh khác nhau trong công việc. Các nghiên cứu của họ đã xây dựng các chỉ số mỏ tả công việc (JDI - Job Descriptive Index) để đánh mức độ thỏa mãn công việc của người lao động thể hiện qua 05 nhân tổ: đồng nghiệp, đặc ìm công việc, thu nhập, cơ hội đảo tạo va thăng tiến, lãnh đạo. Schemerhon (1993) định nghĩa sự thỏa mãn trong công việc là sự phán ứng của 8 người lao động về mặt cám xúc vả tỉnh cảm đổi với các khía cạnh khác nhau của công việc.
Các nguyên nhân của sự thỏa mãn trong công việc được tác giả nhắn mạnh bao gồm mỗi quan hệ với đồng nghiệp, vị trí công việc, sự giảm sắt của cấp trên, nội dung công việc, sự đãi ngõ và các phần thưởng gồm thăng tiền, cơ cầu của tổ chức cũng như điều kiện vật chất của môi trường làm việc. Hay theo Spector (1997), sự thỏa mãn công việc đơn gián chỉ là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và cách họ thích các khía cạnh công việc như thể nào. Vì nó là sự đánh giả chung, nên nó là một biến vẻ thái độ. Còn Ellickson va Logsdon (2001) thì cho rằng sự thỏa mãn công việc được định nghĩa chung là mức độ mà người người lao động yêu thích công việc của họ.
Đồ chính là thái độ dựa trên sự nhận thức của người lao động (tiêu cực hay tích cực) về công việc hoặc môi trường lảm việc của họ. Nói cách khác, muỗn độ thỏa mãn công việc cảng cao thì môi trường làm việc cảng phải đáp ứng được các tỉnh cách, giá trị và nhu cầu của người lao đồng. ‘Theo Kreitner và Kinicki (2007), sự thỏa mãn trong công việc chú yếu phản ảnh mức độ mà một cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là cảm xúc hay tinh cảm của người người lao động đó đối với công việc của mình.
Như vậy, định nghĩa về sự thỏa mãn trong công việc trong các nghiên cứu trước đây: thiểu sự thống nhất nhưng có thể chia lâm hai trường phải chính (Ramesh vả Gelfand, 2010). Trường phái thứ nhất thường gắn sự thỏa mãn công việc với sự phủ hợp công việc thông qua những lợi ích vat chat, vi du như lương thưởng, sự thăng chức, cơ sở. Ví dụ, mô hình nghiên cứu dựa trên chỉ số mô tả công việc Job Descriptive Index (JDI) của Smith et al.(1969) cho thấy mức độ thöa mãn công việc của một người thông qua các nhân tố: đặc điểm công việc, tiền lương, cấp trên, cơ hội đảo tạo - thing tiến vả đồng nghiệp. Ở Việt Nam, PGS.Trẳn Kim Dung đã thực hiện nghiên cứu đo lường sự thỏa mãn trong công việc bằng cách sử dụng thang đo JDĨ vả thuyết nhu cầu của Maslow (1943) trong năm 2005, cho ra kết quả có 2 nhân tố mới: phúc lợi va điều kiện làm vị (Lê Nguyễn Đoan Khôi và Đỗ Hữu Nghị (2013).
Trường phái thứ hai lại định nghĩa sự thỏa mãn công việc thiên về sự thỏa mãn với các đồng nghiệp và các mỗi quan hệ. Ví đụ: Kakar (1978) định nghĩa sự thỏa mãn công việc là những tình cảm trong các mỗi quan hệ trong công việc. Sự thỏa mãn công. việc theo trường phái nảy thường được tim thay ở các nước theo chủ nghĩa tập thể khi 9 mọi người đánh giả cao vai trỏ cúa tấp thể hơn vai trỏ của cá nhân (Ramesh và Gelfand, 2010), ‘Tom lai sự thỏa mãn công việc của người lao động lả sự đáp ứng những nhu cầu va mong muốn của con người trong môi trưởng công việc.
Khi những nhu cầu vả mong. muốn này được đáp ứng thỉ sự thỏa mãn của người lao động sẽ được tăng lên. Mức độ thỏa mãn với các thành phần công việc Theo Smith et al. Thang đo chỉ số mô tả công việc Job Descriptive Index (JDI) của ông đã được sử dụng phỏ biển trên toàn thể giới và được đánh giá có độ tin cậy cao (Kreitner et al., 2007) Schemerhon (1993) di định nghĩa sự thỏa mãn trong công việc lä sự phản ửng về mặt cảm xúc vả tỉnh cám của người lao động đổi với các khía cạnh khác nhau trong.
Ong đã nhắn mạnh nguyên nhân của sự thỏa măn trong công việc bao gồm : (1)Vị trí công việc, (2)Sự giám sát của cấp trên, (3)Mỗi quan hệ với đồng. nghiệp, (4)Nội dung công viễc, (S)Sự đãi ngộ và (6)Các thành phẩn thưởng bao gi cơ cấu tổ chức, điều kiện vật chất của môi trưởng lâm việc cũng như thăng tiến. Herzberg (1959) cho rằng có 02 nhóm nhân tổ liên quan đến sự thỏa mãn trong công. việc của người lao động: nhóm nhân tố động viễn và nhóm nhân tổ duy tri.
Qua các định nghĩa cho thấy, sự thỏa mãn trong công việc được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhưng nhìn chung sự thỏa mãn trong công việc là mức độ thoải mái, để chịu và thích thú của người lao động đổi với công việc của họ. Mức đội thỏa mãn này nhiều hay it tủy thuộc vảo mức độ cảm nhận của từng người lao động. Phần tiếp theo sau đây sẽ đề cập đến các lý thuyết liên quan đến sự thỏa mãn công việc và từ đó để xuất mô hình nghiên cứu.
Các thành phần của thỏa mãn đối với công việc Vì JDI được đánh giá cao trong cá lĩnh vực nghiên cứu lẫn thực tiễn. Price (1997) cho rằng JDI là công cụ nên được lựa chọn cho các nghiên cứu đo lường về mức đô thỏa mãn vẻ công việc của nhãn viễn. Chỉ trong 20 năm cuối thế kỷ 20, mô hình IDI được sử dụng cho hơn 600 nghiên cứu đã được xuất bản (Ajmi, 2001). Chính vi thế 10 nghiên cứu này sử dụng thang đo chỉ số mỏ tả công việc (Job Descriptive Index ~ JDI) do Smith et al(1969) thiết lập để thực hiện xác định các thành phần thỏa mãn đối với công việc.
Lopes et al. (2015) đã sử dụng chỉ số mô tả công việc JDI và thang đo chỉ số chung JIG cho nghiên cửu của mình, Nghiên cứu cho ra kết quả có 05 nhân tố tác động và biển thiên cùng chiều với sự thỏa mãn. Trong nghiên cứu này, nhãn tố tiễn lương vả cơ hội thăng tiễn tác động tới sự thỏa mãn chung liền quan nhiều hơn đến các biển nhân khẩu học.