Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 4 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm có liên quan Khái niệm “NLĐ” đã có sự thay đổi theo quy định mới tại Bộ luật Lao động 2019 (có hiệu lực từ 01/01/2021). NLĐ là người làm việc cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ. Độ tuổi lao động tối thiểu của NLĐ là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này.
Khái niệm ĐLLV Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về động lực lao động, tuy nhiên khái niệm về chúng c甃̀ng chưa thật sự thống nhất. Do đó, tác giả có thể hệ thống được cái khái niệm về động lực như sau: “Đô ̣ng lực của nhân viên là những yếu tố bên trong đảm bảo con người đạt đến sức lao đô ̣ng tối đa trong mọi điều kiê ̣n, tạo ra sự sản xuất và hiê ̣u suất cao” (Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương, 2011). C甃̀ng có thể hiểu rằng “Đô ̣ng lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực” (Nguyễn Hữu Lam, 2006). Những yếu tố nô ̣i tại này đảm bảo rằng NLĐ sẽ có đam mê và sức lao đô ̣ng tối đa trong mọi tình huống, giúp tạo ra các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao với hiê ̣u suất tối đa.
Do vậy có thể hiểu một cách hiểu chung nhất về động lực lao động là: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức c甃̀ng như bản thân NLĐ”. Con người làm việc đều mong muốn được khẳng định bản thân, được thành đạt, c甃̀ng như muốn có thu nhập đảm bảo. Động lực mạnh sẽ thúc đẩy con người hành động một cách tích cực, đạt hiệu quả cao và ngược lại.
Động lực là một chủ đề phong phú, được thực hiện ở nhiều ngành nghề và khía cạnh khác nhau. Việc hiểu biết về các yếu tố hình thành, ảnh hưởng và kết quả động cơ đã nhận được sự chú ý rộng rãi từ các nhà nghiên cứu về hành vi, văn hóa, tổ chức và lĩnh vực quản lý. Động lực - lực thúc đẩy đam mê và sự kết nối tinh thần của con người. Theo Mitchell (1999), nó tạo ra một mức độ mà mỗi cá nhân khao khát đạt tới và lựa chọn để 5 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 hướng đến.
Theo Nguyễn Văn Điểm và Nguyễn Ngọc Quân (2010), khẳng định rằng động lực là điểm tựa của tất cả những cảm hứng thú vị và những lựa chọn tác động đến sự hoạt động của con người. Mỗi cá nhân đều gắn liền với những động lực riêng, và khi động lực thúc đẩy, mỗi cá nhân sẵn lòng đổ hết tâm huyết để chinh phục những ước mơ và mục tiêu trong cuộc sống. Theo Stee & Porter (1983), “ĐLLV là sự khat khao và tự nguyện cao cả của nhân viên, khiến họ dồn hết nỗ lực để hướng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Nó là nguồn cảm hứng, quyết tâm và kiên nhẫn không ngừng trong quá trình làm việc.
Được thôi thúc bởi sự kỳ vọng, ĐLLV biến mơ ước thành hiện thực và thúc đẩy sự nỗ lực không ngừng vươn lên. Đó chính là cốt l漃̀i của sự đam mê và sự tự nguyện đối với công việc, khiến NLĐ sẵn lòng gắn bó và cam kết tận tâm với sự thành công của tổ chức”. Pinder (1998) đã chỉ ra r漃̀ hơn và cho rằng: “ĐLLV là một tập hợp của các yếu tố bên ngoài và bên trong các hành vi có liên quan đến việc thiết lập, hướng dẫn hình thức, thời gian và mức độ cường độ của hành động. Định nghĩa này xác định ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài (ví dụ, tính chất công việc, hệ thống khen thưởng của tổ chức) và các yếu tố bẩm sinh của một cá nhân (ví dụ, động cơ và nhu cầu của một người) đến các hành vi liên quan đến làm việc”.
Theo Mitchell (1982), “động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình”. Theo Vroom (1964), “động lực là trạng thái hình thành khi NLĐ kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc”. Động lực là hiện tượng tâm lý được thúc đẩy bởi khát khao và sự tự nguyện của cá nhân, nhằm gia tăng nỗ lực đạt đến mục tiêu hay kết quả cụ thể. Động lực c甃̀ng phụ thuộc vào ảnh hưởng đa dạng của các yếu tố, những yếu tố này liên tục thay đổi và khó nắm bắt trong việc phân tích các hành vi liên quan đến quá trình làm việc.
Như vậy, ĐLLV - một khái niệm hấp dẫn và phức tạp - tiết lộ bản chất đa diện của NLĐ. ĐLLV không chỉ phản ánh hành động và tư thế của từng NLĐ trong công việc và tổ chức, mà còn chứa đựng bản sắc riêng tư của mỗi NLĐ. Mỗi NLĐ đảm nhận những nhiệm vụ động lực khác nhau và có động cơ riêng, thúc đẩy họ hoạt động tích cực hơn. Tuy nhiên, ĐLLV không đơn giản là một yếu tố tĩnh, mà phải đối mặt với sự tác động đa chiều từ nhiều YTAH.
Những yếu tố nội tại bên trong: phụ thuộc vào tính cách 6 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 và đặc thù của từng cá nhân và yếu tố bên ngoài như: môi trường làm việc và bản chất công việc đều có ảnh hưởng đáng kể. Do đó, ĐLLV có thể biến đổi theo thời gian và hoàn cảnh. NLĐ có ĐLLV cao vào một thời điểm cụ thể có thể trải qua sự giảm sút ĐLLV hoặc thậm chí mất ĐLLV hoàn toàn vào thời điểm khác, hoặc cảm thấy không hài lòng với công việc hiện tại. ĐLLV chính là sức mạnh tác động mạnh mẽ vào cuộc sống và sự nghiệp của mỗi NLĐ.
Vai trò của ĐLLV Ifinedo (2003) cho rằng: “một NLĐ có động lực có thể dễ dàng thấy r漃̀ sự nhiệt tình, sự cống hiến và sự tập trung vào công việc của họ nhằm đóng góp cho mục đích và mục tiêu chung của tổ chức”. Do vậy, động lực có liên quan đến việc mong muốn đạt kết quả tốt với nhiệm vụ được giao. ĐLLV của nhân viên có liên quan đến sự thịnh vượng hay suy thoái của tổ chức. Nhân viên có ĐLLV cao sẽ giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu hơn đối thủ cạnh tranh.
NLĐ có ĐLLV tốt sẽ khuyến khích hành vi có đạo đức tại tổ chức. Nghiên cứu của Amabile (1996), Woodman và đồng nghiệp (1993), Ford (1996, 1999), Nam Choi (2004), và Lapeniene (2012) đồng loạt nhấn mạnh sự quan trọng của động lực nội tại trong việc thúc đẩy các hoạt động sáng tạo tại nơi làm việc. Theo họ, những nhân viên có xu hướng sáng tạo cao thường xuất hiện trong các công việc liên quan đến sở thích cá nhân hoặc công việc thu hút và kích thích họ. Nhìn chung, các nghiên cứu c甃̀ng đã chứng minh rằng sự sáng tạo của nhân viên thường được kích thích mạnh mẽ khi công việc liên quan đến những yếu tố mang tính hứng thú và đem lại niềm vui cho họ (theo Nguyễn Thùy Dung, 2015) 2.
Nhu cầu, động cơ Nhu cầu Wikipedia cung cấp một số khái niệm hấp dẫn về nhu cầu: (1) Nhu cầu là hiện tượng tâm lý của con người; bao gồm đòi hỏi, mong muốn và nguyện vọng của con người liên quan đến vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Nhu cầu này phụ thuộc vào trình độ nhận thức, môi trường sống và những đặc điểm tâm sinh lý, khiến mỗi người có những nhu cầu độc đáo; (2) Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận; (3) Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Đối với những nhu cầu càng cấp bách, khả năng chi phối của con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát nhu cầu có ý 7 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 nghĩa là có khả năng kiểm soát được cá nhân.
Trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thỏa mãn nhu cầu. Philip Kotler (2009) phân loại nhu cầu thành hai loại: “Nhu cầu cấp thiết” và “Mong muốn”. Tóm lại, Kotler đã chia nhu cầu thành hai khái niệm cơ bản, là nhu cầu cấp thiết phản ánh bản chất con người và mong muốn là một nhu cầu cấp thiết cụ thể phù hợp với từng cá nhân, và cả hai đều liên quan chặt chẽ đến khái niệm về sức mua. Nhu cầu của con người là một thế giới đa dạng và phong phú.
Nhu cầu này và sự thỏa mãn các nhu cầu đó phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất xã hội và cách phân phối các giá trị vật chất và tinh thần trong xã hội đó. Dù ở bất kỳ nền sản xuất nào, nhu cầu của con người đều bao gồm hai loại chính: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Tổng kết lại, nhu cầu của con người là một bức tranh phong phú và đa dạng, từ nhu cầu vật chất cho đến nhu cầu tinh thần, tất cả đều ảnh hưởng và thay đổi theo sự phát triển của xã hội và tâm hồn con người. Động cơ Động cơ, theo từ điển tiếng Việt (1996), được miêu tả là một yếu tố có khả năng kích thích và thúc đẩy con người tư duy và hành động.
Lương Văn 唃Āc (2011) đã mô tả: Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào tâm trí con người, đó là những mục tiêu thúc đẩy hành động của họ nhằm đáp ứng nhu cầu và cảm xúc của bản thân. Động cơ luôn có mối liên kết chặt chẽ với nhu cầu và hành động của từng cá nhân, nhằm thỏa mãn những nhu cầu đòi hỏi của bản thân mỗi người. Động cơ được hiểu như sự sẵn lòng và quyết tâm thực hiện với nỗ lực tối đa để đạt được các mục tiêu của tổ chức, và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để đáp ứng nhu cầu cá nhân. Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa cá nhân và tình huống.
Mỗi cá nhân khác nhau đều có những động cơ riêng, và động cơ có thể thay đổi trong các tình huống khác nhau.