CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1.1 Khái niệm, chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện đa khoa hạng II Theo WHO, bệnh viện là một kho tàng các nguồn lực và kiến thức quan trọng. Bệnh viện thường là đầu mối chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng, đi đầu trong việc phát triển bền vững, củng cố hệ thống y tế và xây dựng cộng đồng khỏe mạnh. Chức năng và tổ chức của bệnh viện thay đổi tùy theo các tổ chức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và vị trí riêng của từng bệnh viện trong hệ thống (16).
Bệnh viện đa khoa hạng II là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc khu vực các huyện trong tỉnh và các Ngành, có đội ngũ cán bộ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu và có trang bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho bệnh viện hạng III. Bệnh viện đa khoa hạng II thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ sau: Cấp cứu - khám bệnh - chữa bệnh; Đào tạo cán bộ; Nghiên cứu khoa học; Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn và kỹ thuật; Phòng bệnh; Hợp tác quốc tế; Quản lý kinh tế y tế (17). Khái niệm về nguồn nhân lực y tế Nhân lực y tế là những người tham gia vào các hoạt động với mục đích ban đầu là bảo vệ và nâng cao sức khỏe của cộng đồng (18). Nhân lực ngành y tế (bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, dược sĩ,…) là thành phần vô cùng quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ y tế có chất lượng, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân (UHC) và đạt được các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) liên quan đến sức khỏe.
Năm 2016, tại Việt Nam cứ mỗi 1000 dân sẽ có khoảng 0,8 bác sĩ; 1,4 điều dưỡng và 0,3 dược sĩ (19). Khái niệm và nhiệm vụ của điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên Theo Tổ chức Y tế Thế giới, điều dưỡng và hộ sinh là một thành tố quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu trên toàn thế giới - bao gồm nghiên cứu, phòng ngừa bệnh tật, điều trị người bị thương, chăm sóc giảm nhẹ và các nhiệm vụ khác khi cần thiết (20). Theo Thông tư 31/TT-BYT của Bộ Y tế đã quy định nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh của điều dưỡng bao gồm các nhiệm vụ như sau: Tiếp nhận và 5 nhận định người bệnh; Xác định và thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng; Đánh giá kết quả thực hiện can thiệp chăm sóc điều dưỡng (21). Các nhiệm vụ của hộ sinh được quy định tại Thông tư liên tịch số 26: Chăm sóc bà mẹ, trẻ sơ sinh, người bệnh và người sử dụng dịch vụ; Chăm sóc sức khỏe sinh sản tại cộng đồng; Sơ cứu, cấp cứu; Truyền thông, giáo dục, tư vấn về chăm sóc sức khỏe sinh sản; Phối hợp, hỗ trợ trong điều trị; Bảo vệ và thực hiện quyền của người bệnh; Đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển nghề nghiệp (22); Kỹ thuật viên y tế là người thực hiện các cận lâm sàng cung cấp các kết quả cận lâm sàng hỗ trợ bác sĩ trong việc đưa ra quyết định trong chẩn đoán và điều trị bệnh (23).
Thông tư liên tịch số 26 quy định rõ kỹ thuật viên có các nhiệm vụ chính sau đây: Thực hiện chuyên môn kỹ thuật y; Quản lý hoạt động chuyên môn; Phối hợp trong chẩn đoán và điều trị; Bảo vệ quyền lợi của người bệnh, cá nhân/tổ chức gửi mẫu xét nghiệm; Tư vấn, giáo dục sức khoẻ; Đào tạo, nghiên cứu khoa học (22). Sự hài lòng đối với công việc Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về sự hài lòng đối với công việc tùy theo cách tiếp cận và góc nhìn của từng tác giả. Hoppock là người đầu tiên đưa ra khái niệm về sự hài lòng trong công việc vào năm 1935. Ông cho rằng sự hài lòng trong công việc là sự kết hợp của các hoàn cảnh tâm lý, sinh lý và môi trường khiến một người nói rằng "Tôi hài lòng với công việc của mình" (24).
Theo thuyết kỳ vọng của Vroom vào năm 1964 cho rằng hài lòng trong công việc là khi người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức và họ phải thực sự cảm thấy thích thú đối với công việc. Spector vào năm 1997 cũng nêu nhận định tương tự nhưng có bổ sung, tác giả này đã khẳng định rằng sự hài lòng trong công việc được thể hiện khi người lao động cảm thấy họ yêu thích công việc đó và họ hiểu rõ về môi trường cũng như công việc họ đang làm (25). Học thuyết về sự hài lòng 1. Thuyết hai nhân tố của Herzberg Herzberg và các đồng nghiệp đã tiến hành các cuộc phỏng vấn với sự tham gia của hơn 200 kỹ sư và các kế toán của ngành công nghiệp khác nhau.
Herzberg cho 6 rằng có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến động lực của nhân viên tại nơi làm việc, đó là các nhân tố duy trì và các nhân tố thúc đẩy (26). - Nhân tố duy trì: Những yếu tố này không khuyến khích nhân viên làm việc chăm chỉ hơn, nhưng sẽ khiến họ mất đi động lực nếu không được đáp ứng đầy đủ. - Nhân tố thúc đẩy: Đây là những yếu tố khuyến khích nhân viên làm việc chăm chỉ hơn. Các nhân tố của thuyết Herzberg Nhân tố duy trì Nhân tố thúc đẩy - Điều kiện làm việc - Sự thành đạt - Tiền lương - Sự tôn vinh, công nhận thành tích của - Sự giám sát và quản lý trong công việc tổ chức, lãnh đạo và các đồng nghiệp - Chính sách và các chế độ quản trị trong - Đặc điểm và bản chất bên trong của các doanh nghiệp công việc - Các chính sách về lương và thưởng - Những trách nhiệm trong công việc - Các mối quan hệ với đồng nghiệp - Các cơ hội thăng tiến Hài lòng và không hài lòng trong công việc không phải 2 vế đối lập với nhau.
Ngược với hài lòng là không hài lòng. Tuy nhiên ngược lại với không hài lòng chưa hẳn sẽ là hài lòng, có nghĩa là khi người lao động không có vấn đề gì để họ cảm thấy không hài lòng nhưng chưa hẳn là họ đang cảm thấy hài lòng. Từ đó cho thấy việc động viên nhân viên đòi hỏi phải đáp ứng đồng thời cả hai nhóm nhân tố duy trì và thúc đẩy, không thể xem nhẹ hoặc chỉ chú trọng một nhóm nào cả (27). Tháp nhu cầu của Maslow Tháp nhu cầu Maslow được ra đời vào năm 1943 bởi Abraham Maslow - cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn tâm lý học.
Trong tháp nhu cầu, Maslow chia thành 5 nấc thang, nấc thang càng thấp thì càng to, tượng trưng cho nhu cầu đó càng cấp thiết và mang tính thiết thực nhiều hơn (28). 7 Nhu cầu về thể lý (thể chất và tâm lý) là nhu cầu cơ bản nhất của con người, nằm ở dưới đáy kim tự tháp, bậc thang dưới cùng và to nhất. Tức là các nhu cầu ở mức độ cao hơn không xuất hiện nếu nhu cầu sinh lý này chưa được thỏa mãn. Đây là những nhu cầu về sinh lý, thể chất cơ bản nhất để sự sống của con người được tiếp diễn.
Khi nhu cầu về thể lý được thoả mãn, con người sẽ hướng đến nhu cầu tiếp theo là sự an toàn, lúc này các yêu cầu dần trở nên phức tạp hơn. Các nhu cầu được bảo vệ, được cảm thấy an toàn bao gồm: An toàn về thể chất, sức khoẻ; An toàn về tài chính; An toàn về gia đình. Nhu cầu về xã hội: Đây là nhu cầu mong muốn được môi trường xung quanh đón nhận và yêu mến. Mong muốn được gắn bó với gia đình của các thành viên hay muốn được gắn bó với tổ chức hay một phần trong tổ chức nào đó hay mong muốn về tình cảm.
Nhu cầu được quý trọng là nhu cầu mong muốn được những người xung quanh lắng nghe ý kiến, có sự tôn trọng cả về nhân phẩm lẫn năng lực và các giá trị khác của cá nhân đó. Nhu cầu được quý trọng đóng vai trò nổi bật hơn trong việc thúc đẩy hành vi, được thực hiện thông qua cảm giác tự trọng, sự tôn trọng của người khác, mức độ tin tưởng và thành công của một người. 8 Nhu cầu tự thể hiện bản thân: muốn được thể hiện bản thân, muốn được mọi người, được xã hội ghi nhận, phát huy những kiến thức, kinh nghiệm, trí tuệ, kỹ năng của mình để cho những người khác được nhìn thấy, công nhận. Thuyết kỳ vọng Lý thuyết kỳ vọng của Vroom đánh giá động lực làm việc để thỏa mãn công việc dựa trên những mong đợi về kết quả công việc của bản thân.
Mô hình này do Victor Vroom đưa ra vào năm 1964. Thuyết kỳ vọng của Vroom được xây dựng theo công thức: Kỳ vọng + Phương tiện + Hấp lực = Động lực - Kỳ vọng từ việc cố gắng nỗ lực làm việc là sự mong đợi để về công việc và đạt mục tiêu và bản thân đã đề ra. - Phương tiện là những yếu tố hỗ trợ thực hiện công việc về quan hệ làm việc, điều kiện làm việc, tự chủ công việc. để hoàn thành công việc.
- Hấp lực là phản ứng về phần thưởng nhận được so với thành quả lao động mà họ đóng góp công sức vào. Sự kết hợp của ba yếu tố này tạo ra sự động lực làm việc của người lao động, chỉ khi nhận thức của họ về cả ba yếu tố trên là tích cực (29). Thuyết thành tựu Thuyết thành tựu của Jame L. McClelland được ra đời vào năm 1988, tập trung tạo động lực làm việc và cải thiện quá trình thực hiện công việc do đem lại sự thỏa mãn nhu cầu thành tựu của con người (29).
Lý thuyết của McClelland tập trung vào ba loại nhu cầu của con người là nhu cầu về thành tựu, nhu cầu về quyền lực và nhu cầu về liên minh (30). Một số thang đo sự hài lòng đối với công việc 1. Chỉ số mô tả công việc (JDI) Chỉ số mô tả công việc là một thước đo các khía cạnh của sự hài lòng trong công việc, có nghĩa là nhân viên được yêu cầu suy nghĩ về các khía cạnh cụ thể trong công việc của họ và đánh giá mức độ hài lòng của họ đối với những khía cạnh cụ thể đó. Mô hình chỉ số mô tả công việc của Smith và cộng sự (1969) được thiết kế với 72 9 mục hỏi khác nhau về 5 yếu tố công việc là: bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp và tiền lương.