ĐẶT VẤN ĐỀ Con người là thành tố quan trọng của mọi tổ chức, cơ quan trong việc thực hiện và đạt được mục tiêu đề ra. Ngành y là một ngành đặc biệt với mục tiêu là chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người, do đó yếu tố con người trong ngành y càng là yếu tố quan trọng. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) ở quy mô toàn cầu nguồn nhân lực y tế đang có một sự thiếu hụt nghiêm trọng và nhất là nguồn nhân lực y tế chất lượng cao. Ngoài nguyên nhân do thiếu chuẩn bị đầu vào, nguồn nhân lực còn có những nguyên nhân khác như di cư, thay đổi nghề nghiệp, nghỉ hưu sớm do sức khỏe và sự an toàn [45].
Theo dự báo với tốc độ tăng trưởng dân số như hiện nay thì ước tính đến năm 2035 thế giới sẽ có khoảng 8,6 tỷ người. Điều đó đồng nghĩa sẽ thiếu khoảng 12,9 triệu nhân viên y tế. Trong năm 2035, các vùng có mức thiếu hụt nhân viên y tế cao nhất là khu vực Đông Nam Á tiếp theo là ở khu vực Châu Phi [46]. Việt Nam đang đối mặt với những vấn đề về nguồn nhân lực, đặc biệt là thiếu hụt nhân lực y tế.
Tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng, sự phân bố không đồng đều giữa các vùng miền, các tuyến trong một địa phương có nhiều nguyên nhân: thu nhập thấp, điều kiện làm việc khó khăn, ít có cơ hội phát triển nghề nghiệp [12]. Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc với 13 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 11 huyện [3]. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Thọ, sự nghiệp y tế tại tỉnh đang ngày càng được chú trọng. Theo thống kê của phòng Tổ chức cán bộ - Sở Y tế tỉnh Phú Thọ, hiện nay toàn tỉnh có 41 đơn vị ngành y tế, với 4.949 cán bộ, nhân viên y tế [23], [22].
Mặc dù trong nhiều năm trở lại đây, toàn tỉnh cũng đã tổ chức nhiều đợt thi tuyển, bổ sung nhân lực tuy nhiên số lượng nhân lực y tế vẫn còn thiếu cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là ở các bệnh viện chuyên khoa của tỉnh là bệnh viện Phục hồi chức năng, bệnh viện Y dược cổ truyền, bệnh viện Tâm thần và bệnh viện Lao và bệnh phổi. Trong số đó phải kể đến sự thiếu hụt về nguồn nhân lực điều dưỡng. Trên địa bàn tỉnh hiện có 1.281 điều dưỡng, riêng tại 4 bệnh viện chuyên khoa chỉ có tổng số 120 điều dưỡng [1], [22]. Tỷ số bác sĩ/điều dưỡng tại các bệnh viện này chỉ đạt từ 1 bác sĩ/0,8 điều dưỡng đến 1 bác sĩ/2,1 điều dưỡng.
Trong khi đó công suất sử dụng giường năm 2014 2 của các bệnh viện đạt ở mức cao từ 100% đến 113,6% [6], [7], [8], [9]. Cũng theo đánh giá của các Lãnh đạo bệnh viện mặc dù có sự thiếu hụt về nhân lực điều dưỡng nhưng vẫn còn một bộ phận không nhỏ các điều dưỡng chưa thực sự làm hết khả năng của mình. Điều này cũng phần nào gây ảnh hưởng đến công tác chăm sóc người bệnh tại các bệnh viện chuyên khoa của tỉnh. Vì điều dưỡng góp phần quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe nhân dân, giúp giảm thiểu những biến chứng, bệnh tật, tỷ lệ tử vong trong quá trình điều trị và trong khía cạnh nào đó, đây là nơi hợp điểm thể hiện y đức của ngành y tế [25].
Do vậy việc tạo động lực để khuyến khích điều dưỡng làm việc là điều rất cần thiết. Vấn đề đặt ra là thực trạng nguồn nhân lực y tế tại các bệnh viện chuyên khoa tỉnh Phú Thọ như thế nào? Đâu là động lực thúc đẩy công việc của người điều dưỡng? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến động lực làm việc của người điều dưỡng tại các bệnh viện chuyên khoa của tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh thiếu hụt nhân lực điều dưỡng như hiện nay? Để có thể trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng nguồn nhân lực và một số yếu tố liên quan đến động lực làm việc của điều dưỡng tại các bệnh viện chuyên khoa tỉnh Phú Thọ, năm 2015”. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý của các bệnh viện có thêm thông tin để xây dựng chính sách nhân lực phù hợp, từng bước thu hút và phát triển đội ngũ điều dưỡng nói riêng và nguồn nhân lực y tế của ngành nói chung nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng nguồn nhân lực tại các bệnh viện chuyên khoa ở tỉnh Phú Thọ, năm 2015. Xác định động lực làm việc của Điều dưỡng tại các bệnh viện chuyên khoa ở tỉnh Phú Thọ, năm 2015. Xác định một số yếu tố liên quan đến động lực làm việc của Điều dưỡng tại các bệnh viện chuyên khoa tỉnh Phú Thọ, năm 2015. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Nguồn nhân lực y tế 1. Khái niệm về nhân lực y tế Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hệ thống y tế gồm 6 thành phần cơ bản và nhân lực y tế được coi là một thành phần quan trọng của hệ thống y tế, là yếu tố chính đảm bảo hiệu quả và chất lượng của dịch vụ y tế. “Nhân viên y tế (NVYT) là tất cả những người tham gia vào những hoạt động mà mục đích là nhằm nâng cao sức khỏe” [45]. Như vậy với định nghĩa trên thì người mẹ chăm sóc con ốm và những người tình nguyện trong lĩnh vực y tế cũng bao gồm trong nguồn nhân lực y tế.
Họ góp phần quan trọng và quyết định việc thực hiện chức năng của hầu hết các hệ thống y tế. Tuy nhiên, thực tế dữ liệu về số NVYT chủ yếu giới hạn trong những người tham gia vào các hoạt động được trả lương. Cụ thể hơn, WHO định nghĩa NVYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ, kỹ thuật viên và những người quản lý và nhân viên khác: nhân viên kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý.Nguồn nhân lực là trung tâm của hệ thống y tế, là nền tảng của những thành tựu về chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng. Có những bằng chứng rõ ràng về số lượng và chất lượng nguồn lực y tế kết hợp chặt chẽ với kết quả tốt về mức độ bao phủ tiêm chủng, chăm sóc sức khỏe ban đầu, tử vong trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và tử vong mẹ [45].
Thực trạng nguồn nhân lực y tế trên thế giới và tại Việt Nam 1. Thực trạng nguồn nhân lực y tế trên thế giới. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2006) ước tính có khoảng 59,2 triệu NVYT chính thức được trả lương trên toàn thế giới. Những người này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe của người dân, trong đó 2/3 là những những người cung cấp dịch vụ trực tiếp và số còn lại là quản lý và nhân lực khác [45].
Về mật độ nhân lực y tế: Theo báo cáo năm 2006 của WHO đưa ra mốc là 22,8 NVYT trên 10.000 dân để cung cấp dịch vụ y tế [45]. Tuy nhiên trong báo cáo năm 2013 được tổng hợp từ 186 quốc gia cho thấy có 83 quốc gia (chiếm 44,6%) vẫn 5 chưa đạt mức 22,8 NVYT/10.000 dân; 17 quốc gia (chiếm 9,1%) đạt mức 34,5 NVYT/10.000 dân; 18 quốc gia (chiếm 9,7%) đạt dưới mức 59.000 dân và 68 nước (chiếm 36,6%) đạt hoặc vượt 59,4 NVYT/10. Trong số 68 quốc gia có mức nhân lực y tế đạt 59,4 NVYT/10.000 dân thì 36 quốc gia là ở khu vực châu Âu, không có quốc gia nào là ở châu Phi. Khu vực Đông Á - Nam Á và châu Phi là những khu vực nghiêm trọng nhất, chiếm 70% các quốc gia không có đạt ngưỡng 22,8 NVYT/10.000 dân tức là vừa không đủ nhân lực và vừa không đạt bao phủ về dịch vụ y tế (trong đó có 7 quốc gia Đông Nam Á (chiếm 13%), 31 quốc gia châu Phi (chiếm 57%) [46].
Theo WHO trong số các tỷ số của ngành y tế liên quan đến cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, thường chú ý đến tỷ số giữa bác sĩ (BS) và điều dưỡng (ĐD). Tỷ số này thấp nhất là vùng Tây Thái Bình Dương, tuy nhiên cũng cần cân nhắc đến tính không đồng nhất giữa các nước trong vùng. Ở Canada và Mỹ xấp xỉ 1 BS/4 ĐD, trong khi đó ở các nước khác ở châu Mỹ như Chile, Mexico và Peru số BS lại nhiều hơn so với ĐD. Ở các nước châu Âu như ở Na Uy và Anh tỷ lệ này là 1 BS/5 ĐD [46].
Theo báo cáo tổng hợp của OECD và WHO năm 2012 cho thấy tỷ lệ BS/ĐD tại nhiều quốc gia khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng đạt trên ngưỡng quy ước quốc tế ở các nước như: Thái Lan (2010) đạt 1/5,4; Nhật Bản (2010) đạt 1/4,5, New Zealand (2010) đạt 1/3,8; Hồng Kông (2011) đạt 1/3,4. Tuy nhiên một số quốc gia khác vẫn còn ở mức thấp như Malaysia (2011) đạt 1/2,1; Mongolia (2011) đạt 1/1,4; Myanmar và Nepan (2011) đạt 1/1 [41]. Về phân bố nhân lực y tế: Theo ước tính của WHO (2006) có 57/192 quốc gia thiếu hụt NVYT. Cần phải có thêm 4,3 triệu NVYT, trong đó có 2,4 triệu bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh để đáp ứng nhu cầu về y tế.
Nhân viên y tế được phân bố không đồng đều giữa các quốc gia. Châu Mỹ chỉ có 10% gánh nặng bệnh tật của thế giới, nhưng có đến 37% nhân lực và 50% chi tiêu y tế trên toàn cầu. Trái lại, châu Phi chịu hơn 24% gánh nặng bệnh tật nhưng chỉ tiếp cận với chỉ 3% nguồn nhân lực và ít hơn 1% chi tiêu y tế (Bảng 1. Số lượng bác sỹ, điều dưỡng, nữ hộ sinh thiếu hụt ước tính theo các vùng của WHO (2006) [45] Vùng theo WHO Số quốc gia Số thiếu hụt nhân viên y tế Tổng số Số thiếu Số hiện Ước tính Tỷ lệ NVYT có thiếu hụt % Châu Phi 46 36 590.001 50 Châu Âu 52 0 - - - Trung cận Đông 21 7 312.031 98 Tây Thái Bình Dương 27 3 27.470 119 Trong những khu vực và quốc gia sự tiếp cận đối với NVYT cũng không đồng đều.
Ở những nơi có các trường đào tạo NVYT và người dân có khả năng chi trả các dịch vụ y tế luôn luôn thu hút nhiều nguồn nhân lực y tế hơn những vùng không có điều kiện thuận lợi hay những hỗ trợ về tài chính.