Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan chung về tiêm an toàn 1. Các khái niệm, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu 1. Các khái niệm Mũi tiêm an toàn trong nghiên cứu Mũi tiêm an toàn (TAT) trong nghiên cứu là mũi tiêm đạt đủ 17 tiêu chí thực hành trong bảng kiểm đánh giá thực hành TAT [1].
Mũi tiêm không an toàn trong nghiên cứu Mũi tiêm không an toàn trong nghiên cứu là mũi tiêm có từ một tiêu chí thực hành không đạt trở lên bao gồm: Sử dụng bơm kim tiêm (BKT) không vô khuẩn, tiêm thuốc không đúng chỉ định, thực hiện không đầy đủ các tiêu chí trong bảng kiểm, phân loại chất thải sau tiêm sai quy định, đặc biệt chất thải sắc nhọn không được phân loại và cô lập ngay theo quy định quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế [1]. Đậy nắp kim tiêm Kỹ thuật đậy nắp kim một tay: Nhân viên y tế (NVYT) cầm bơm kim tiêm bằng một tay và đưa đầu nhọn của kim vào phần nắp đặt trên một mặt phẳng sau đó dùng hai tay đậy [1]. Đậy nắp kim không dùng hai bàn tay Kỹ thuật vô khuẩn Là các kỹ thuật không làm phát sinh sự lan truyền của vi khuẩn trong quá trình thực hiện như: vệ sinh bàn tay, mang trang phục phòng hộ cá nhân, Luan van 4 sử dụng chất khử khuẩn da, cách mở các bao gói vô khuẩn, cách sử dụng dụng cụ vô khuẩn [1]. Phơi nhiễm nghề nghiệp Phơi nhiễm nghề nghiệp là sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) có chứa tác nhân gây bệnh trong khi nhân viên y tế thực hiện nhiệm vụ dẫn đến nguy cơ lây nhiễm bệnh [1].
Phương tiện phòng hộ cá nhân Phương tiện phòng hộ cá nhân (PPE) bao gồm găng tay, khẩu trang, áo khoác phòng thí nghiệm, áo choàng, tạp dề, bao giày, kính bảo hộ, kính có tấm chắn bên, mặt nạ. Mục đích sử dụng PPE là để bảo vệ nhân viên y tế, người bệnh, người nhà người bệnh và người thăm bệnh khỏi bị nguy cơ phơi nhiễm và hạn chế phát tán mầm bệnh ra môi trường bên ngoài. Tổ chức y tế Thế giới không khuyến cáo sử dụng khẩu trang, găng tay, kính bảo vệ mắt, quần áo bảo vệ trong thực hiện tiêm. Các PPE này chỉ sử dụng trong trường hợp người tiêm có nguy cơ phơi nhiễm với máu, dịch tiết, chất tiết (trừ mồ hôi) [1] [3].
Vệ sinh tay Là bất cứ hình thức nào làm sạch tay gồm: Rửa tay (RT) bằng xà phòng và nước hoặc sát khuẩn tay (SKT) với dung dịch chứa cồn [1 ] [3]. Tác nhân gây bệnh đường máu Các vi sinh vật có độc lực (có khả năng gây bệnh) lây truyền do phơi nhiễm với máu, sản phẩm máu và gây bệnh trên người. Các tác nhân gây bệnh đường máu thường gặp bao gồm HBV, HCV, HIV và một số loại vi khuẩn khác [1]. Tiêm Kỹ thuật đưa thuốc, dịch hoặc chất dinh dưỡng và một số chất khác (Iốt, đồng vị phóng xạ, chất màu) qua da vào trong cơ thể để phục vụ chẩn đoán và Luan van 5 điều trị.
Có nhiều loại đường tiêm và được phân loại theo vị trí tiêm (ví dụ tiêm trong da, dưới da, bắp, tĩnh mạch, trong xương, động mạch, màng bụng) [1] [34]. Tiêm bắp Đưa mũi tiêm vào phần thân của cơ bắp với góc kim từ 60 0-900 so với mặt da (không ngập hết phần thân kim tiêm) thường chọn các vị trí sau: - Cánh tay: 1/3 trên mặt trước ngoài cánh tay. - Vùng đùi: 1/3 giữa mặt trước ngoài đùi. - Vùng mông: 1/4 trên ngoài mông hoặc 1/3 trên ngoài của đường nối từ gai chậu trước trên với mỏm xương cụt [1] [34].
Tiêm dưới da Là kỹ thuật tiêm sử dụng bơm kim để tiêm thuốc vào mô liên kết dưới da của người bệnh, kim chếch 300- 450 so với mặt da. Vị trí tiêm 1/3 giữa mặt trước ngoài cánh tay (đường nối từ mỏm vai đến mỏm khuỷu chia làm 3 phần) hay 1/3 giữa mặt trước ngoài đùi (đường nối từ gai chậu trước trên đến bờ ngoài xương bánh chè) hoặc dưới da bụng (xung quanh rốn cách rốn 5 cm) [1] [34]. Tiêm truyền tĩnh mạch Là kỹ thuật dùng kim đưa thuốc dịch vào tĩnh mạch với góc tiêm 30 0 so với mặt da. Khi tiêm chọn tĩnh mạch nổi rõ mềm mại không di động, da vị trí tiêm nguyên vẹn [1] [34].
Tiêm trong da Mũi tiêm nông giữa lớp thượng bì và hạ bì đâm kim chếch với mặt da 100-150, tiêm xong tạo thành một cục sẩn như da cam trên mặt da. Thường chọn vùng da mỏng, ít va chạm, trắng, không sẹo, không có lông, vị trí 1/3 trên mặt trước trong cẳng tay, đường nối từ nếp gấp cổ tay đến nếp gấp khuỷu tay (thông dụng nhất), 1/3 trên mặt ngoài cánh tay (đường nối từ mỏm vai đến Luan van 6 mỏm khuỷu), bả vai, cơ ngực lớn [1] [34]. Tổn thương do kim tiêm Vết thương do kim tiêm đâm [1]. Thùng đựng chất thải sắc nhọn Còn gọi là “hộp đựng vật sắc nhọn”, “hộp kháng thủng” hay “hộp an toàn”.
Thùng đựng chất thải sắc nhọn được sản xuất bằng chất liệu cứng, chống thủng, chống rò rỉ được thiết kế để chứa vật sắc nhọn (VSN) một cách an toàn trong quá trình thu gom, hủy bỏ và tiêu hủy [1] [3]. Vật sắc nhọn Bất cứ vật nào có thể gây tổn thương xâm lấn da hoặc qua da; Vật sắc nhọn bao gồm kim tiêm, đầu kim truyền dịch, dao mổ, thủy tinh vỡ, ống mao dẫn bị vỡ và đầu dây nẹp nha khoa bị phơi nhiễm [1] [27]. Định nghĩa tiêm an toàn Tiêm an toàn là quy trình tiêm không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm, không gây phơi nhiễm cho người thực hiện mũi tiêm và không tạo chất thải nguy hại cho người khác và cộng đồng [1]. Tình hình tiêm an toàn Trên thế giới Trên thế giới, tiêm được ứng dụng trong điều trị từ những năm 1920 và thịnh hành từ chiến tranh thế giới thứ II sau khi Penicilline được phát minh và đưa vào sử dụng rộng rãi.
Tổ chức y tế Thế giới (WHO) ước tính hằng năm tại các nước đang phát triển có khoảng 16 tỷ mũi tiêm, trong đó 95% mũi tiêm với mục đích điều trị, 3% mũi tiêm là tiêm chủng, 1% mũi tiêm với mục đích kế hoạch hóa gia đình, 1% mũi tiêm được sử dụng trong truyền máu và các sản phẩm của máu [1]. Thực tế đã cho thấy tiêm là một thủ thuật phổ biến có vai trò rất quan trọng trong các lĩnh vực phòng bệnh và chữa bệnh. Tuy nhiên, tiêm cũng gây Luan van 7 ra hậu quả nghiêm trọng cho cả người nhận mũi tiêm, người thực hiện tiêm và cộng đồng nếu như không có những giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện mũi tiêm an toàn [1]. Theo nghiên cứu “Gánh nặng toàn cầu của bệnh do tiêm bị ô nhiễm được đưa ra trong các thiết lập chăm sóc sức khỏe” của Hauri và cộng sự cho thấy trung bình hàng năm mỗi người nhận 3,4 mũi tiêm, 39,3% sử dụng bơm tiêm dùng lại.
Trong năm 2000, nhiễm khuẩn do tiêm gây ra ước tính khoảng 21 triệu ca nhiễm HBV, 2 triệu ca nhiễm HCV và 260.000 ca nhiễm HIV tương ứng chiếm tỷ lệ 32%, 40% và 5%, các bệnh nhiễm trùng mới này cho một gánh nặng 9.679 DAILYs giữa năm 2000 đến năm 2030 [35]. Mặc dù, những hậu quả do tiêm không an toàn gây ra rất nghiêm trọng. Tuy nhiên theo Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ và WHO, có tới 80% tổn thương do kim tiêm có thể phòng ngừa được bằng các biện pháp hết sức đơn giản như sử dụng trang thiết bị tiêm vô khuẩn và thực hiện đúng quy trình tiêm. Sự mất an toàn trong tiêm có thể được giảm nhẹ đi rất nhiều khi ta hiểu rõ những hình thức tiêm không an toàn, nguyên nhân của các hiện tượng đó và các biện pháp kiểm soát chúng.
Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) và an toàn trong tiêm, những khó khăn của các nước thành viên và trách nhiệm của mình trước sự an toàn trong chăm sóc y tế, WHO đã thành lập Mạng lưới tiêm an toàn toàn cầu (SIGN) vào năm 1999. Mục đích của SIGN là giảm tần số tiêm và thực hiện TAT, cải thiện chính sách, quy trình kỹ thuật tiêm, thay đổi hành vi của người sử dụng và người cung cấp dịch vụ tiêm. Có 5 nội dung chính trong chính sách TAT: Áp dụng hợp lý các biện pháp điều trị tiêm; Ngăn ngừa việc sử dụng lại bơm tiêm và kim tiêm; Hủy bơm tiêm và kim tiêm đã qua sử dụng ngay tại nơi sử dụng; Phân loại chất thải ngay tại nơi phát sinh chất thải; Xử lý an toàn và tiêu hủy dụng cụ tiêm đã qua sử dụng. Các tổ chức trên cũng đã xây dựng Chiến lược toàn cầu vì mũi TAT bao gồm: (1) Thay đổi hành vi của cán bộ y tế, người Luan van 8 bệnh (NB) và cộng đồng; (2) Đảm bảo có sẵn vật tư, trang thiết bị; (3) Quản lý chất thải an toàn và thích hợp.
Các biện pháp KSNK do tiêm không an toàn được chia thành 5 nhóm chính: (1) Loại bỏ nguy cơ; (2) Biện pháp kỹ thuật; (3) Biện pháp kiểm soát hành chính; (4) Biện pháp kiểm soát tập quán làm việc; (5) Dụng cụ bảo hộ cá nhân [2]. Từ đó đến nay, SIGN đã xây dựng và ban hành chiến lược an toàn trong tiêm trên toàn thế giới và nhiều tài liệu hướng dẫn liên quan đến tiêm. Với chính sách của SIGN đã tạo ra một sự thay đổi lớn trong nhận thức, hành vi của NB và cộng đồng, đặc biệt với chiến dịch hỗ trợ về truyền thông, kỹ thuật và thiết bị cho các nước chậm phát triển đã dần nâng cao tỷ lệ TAT và góp phần giảm thiểu các nguy cơ và gánh nặng của tiêm không an toàn tại mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Tại Việt Nam Thực hiện khuyến cáo và được sự hỗ trợ kỹ thuật của WHO, năm 2010 Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam ra Quyết định số 2642/QĐ-BYT ngày 21 tháng 7 năm 2011 thành lập Ban soạn thảo các tài liệu hướng dẫn KSNK, trong đó có Hướng dẫn TAT.
Ban soạn thảo tài liệu gồm các thành viên có kinh nghiệm lâm sàng, giảng dạy và quản lý liên quan đến tiêm như ĐDV, Bác sĩ, Dược sĩ, chuyên gia KSNK, chuyên gia quản lý khám, chữa bệnh và đại diện Hội Điều dưỡng Việt Nam.