ĐẶT VẤN ĐỀ Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại trong quá trình tồn tại và phát triển của bất kỳ đơn vị, tổ chức nào. Nguồn nhân lực y tế là cấu phần quan trọng, cơ bản của hệ thống y tế, là yếu tố chính bảo đảm tính hiệu quả và chất lƣợng dịch vụ y tế. Nguồn nhân lực y tế hiện nay đang thiếu hụt nghiêm trọng ở quy mô toàn cầu. Ở Việt Nam, tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế đang tồn tại ở khắp các địa phƣơng trong cả nƣớc.
Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên là hai khu vực có số bác sĩ/vạn dân thấp nhất. Tình trạng thiếu cán bộ y tế xảy ra nặng nề đối với khu vực y tế dự phòng, tuyến y tế cơ sở và vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, giữa Trung ƣơng và địa phƣơng, giữa thành thị và nông thôn. Thành thị chỉ chiếm 27,4% dân số cả nƣớc, nhƣng chiếm 82% dƣợc sỹ đại học, 59% bác sỹ và 55% điều dƣỡng [9]. Những nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy rằng, sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế sẽ đảm bảo duy trì đủ nguồn nhân lực và nâng cao chất lƣợng các dịch vụ tại các cơ sở y tế [30].
Khi nhân viên y tế hài lòng với công việc, họ sẽ có động lực làm việc tích cực, chăm chỉ hơn, họ sẽ gắn bó và làm việc lâu dài hơn với đơn vị. Đây là vấn đề quan trọng quyết định sự thành công trong việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực y tế. Kết quả từ một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số các yếu tố gây nên sự kém sức thu hút cán bộ y tế của tuyến y tế cơ sở. Trong đó, thu nhập thấp và điều kiện làm việc không bảo đảm do thiếu trang thiết bị là hai nguyên nhân chủ yếu làm cho các cán bộ y tế, đặc biệt là bác sĩ không muốn làm việc tại tuyến huyện, xã.
Từ đó, dẫn tới sự thiếu hụt nhân lực y tế, phân bố bất hợp lý, dịch chuyển nhân lực ở một số vùng miền và lĩnh vực công tác [10]. Tỉnh Bến Tre hiện có 07 BVĐK tuyến huyện: Giồng Trôm, Ba Tri, Thạnh Phú, Chợ Lách, Bình Đại, Châu Thành, khu vực Hàm Long. Các BVĐK tuyến huyện chịu trách nhiệm khám, chữa bệnh cho 1.500 ngƣời dân trên địa bàn của 07 huyện thuộc tỉnh Bến Tre. Tổng số giƣờng bệnh kế hoạch là 1000, tổng số biên chế là 897, trong đó bác sĩ là: 137 [20].
Theo báo cáo của Sở Y tế Bến Tre, năm 2010: Tỷ lệ bác sĩ/vạn dân của tỉnh 2 chỉ đạt 5,34. Những năm gần đây, tình trạng bác sĩ có trình độ chuyên môn cao tại bệnh viện tuyến tỉnh, khu vực và cả BVĐK tuyến huyện xin nghỉ việc hoặc tự ý bỏ việc, đã gây không ít khó khăn. Từ năm 2003 - 2010, có 78 cán bộ viên chức nghỉ việc hoặc tự ý bỏ việc, trong đó có 7 bác sĩ chuyên khoa 1, 24 bác sĩ [24]. Theo số liệu thu thập đƣợc từ các bệnh viện (04/2014), trong thời gian từ năm 2012 - 4/2014, có 6/7 BVĐK tuyến huyện tuyển đƣợc 10 bác sĩ, phần đông là do đơn vị cử đi học chuyên tu từ nguồn y sĩ tại bệnh viện trở về làm việc.
Trong khi đó có đến 19 bác sĩ nghỉ việc, trong đó có 11 bác sĩ nghỉ hƣu, 07 bác sĩ chuyển công tác và 01 bác sĩ nghỉ việc vì lý do sức khỏe (phụ lục 5). Để duy trì, ổn định và phát triển nguồn nhân lực, đồng thời đảm bảo cung cấp các loại hình dịch vụ y tế có chất lƣợng, nhằm nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân, cần thiết phải nâng cao sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế nói chung và của bác sĩ nói riêng. Thực tiễn và nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi ngƣời lãnh đạo hiểu đúng về sự hài lòng đối với công việc của nhân viên, sẽ góp phần tích cực cho công tác quản lí đƣợc hiệu quả hơn. Nhằm tìm hiểu sự hài lòng đối với công việc của bác sĩ tại các BVĐK tuyến huyện thuộc tỉnh Bến Tre; qua đó cung cấp thêm thông tin cho các cấp quản lí và những ngƣời hoạch định chính sách nhân lực y tế tỉnh nhà, tôi tiến hành nghiên cứu: “Sự hài lòng đối với công việc của bác sĩ tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện thuộc tỉnh Bến Tre và một số yếu tố liên quan, năm 2014”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả sự hài lòng đối với công việc của bác sĩ tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2014. Xác định một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng đối với công việc của bác sĩ tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2014. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Những khái niệm chung 1. Hệ thống bệnh viện Việt Nam 1. Khái niệm về bệnh viện Theo WHO, “Bệnh viện là một bộ phận của tổ chức mang tính chất y học và xã hội, có chức năng đảm bảo cho nhân dân đƣợc săn sóc toàn diện về y tế cả chữa bệnh và phòng bệnh. Công tác ngoại trú của bệnh viện tỏa tới tận hộ gia đình đặt trong môi trƣờng của nó.
Bệnh viện còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu sinh vật xã hội” [15]. Theo các tài liệu của WHO thì bệnh viện còn là một tổ chức rất phức tạp. Bởi lẽ những tiến bộ trên nhiều mặt trong xã hội đã khiến ngƣời dân ý thức đƣợc rõ hơn về quyền lợi của mình. Họ ngày càng đòi hỏi cao hơn với hệ thống bệnh viện.
Họ muốn đƣợc cung cấp các dịch vụ y tế không chỉ trong khuôn khổ bệnh viện mà còn ở ngay tại gia đình. Ngày càng có nhiều loại bệnh lây lan do ô nhiễm môi trƣờng và vì thế trách nhiệm chức năng của bệnh viện ngày càng nhiều hơn, tính phức tạp cũng tăng lên. Bệnh viện là một cơ sở y tế bao gồm giƣờng bệnh, đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý, có trang thiết bị, cơ sở hạ tầng để phục vụ ngƣời bệnh. Theo quan điểm hiện đại bệnh viện là một hệ thống, một tổ chức động: - Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm: Ban giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng.
- Bệnh viện là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan chằng chịt từ khám bệnh, ngƣời bệnh vào viện, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc… - Bệnh viện là một tổ chức động, bao gồm đầu vào là ngƣời bệnh, cán bộ y tế (CBYT), trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán và điều trị. Đầu ra là ngƣời bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc ngƣời bệnh tử vong [4]. Tổ chức hệ thống bệnh viện Việt Nam Dựa theo tổ chức hành chính Nhà nƣớc, bệnh viện đƣợc chia ra thành 3 tuyến nhƣ sau: Tuyến Trung ƣơng, tuyến tỉnh, thành phố và tuyến huyện/quận. Ngoài ra còn có các bệnh viện thuộc các bộ ngành khác [4] [17].
5 Thực hiện Nghị quyết số 90/NQ-CP, Nhà nƣớc ta đã khuyến khích đa dạng các loại hình dịch vụ để chăm sóc sức khỏe (CSSK) nhân dân: Cho phép thành lập các bệnh viện bán công, bệnh viện tƣ, bệnh viện liên doanh hoặc 100% vốn nƣớc ngoài, các xí nghiệp dƣợc phẩm tƣ nhân hoặc cổ phần [11]. Do đó các mô hình bệnh viện rất đa dạng gồm: Bệnh viện Nhà nƣớc (đa khoa và chuyên khoa), bệnh viện tƣ nhân, bệnh viện bán công, bệnh viện dân lập, bệnh viện có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, bệnh viện liên doanh với nƣớc ngoài [4]. Theo Thông tƣ số 03/2004/TT - BYT, ngày 03/03/2004 của Bộ y tế về việc hƣớng dẫn xếp hạng bệnh viện, thì các bệnh viện đƣợc phân thành 3 hạng I, II, III dựa theo 5 nhóm tiêu chuẩn: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ; quy mô và nội dung hoạt động; trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu lao động; cơ sở hạ tầng; trang thiết bị y tế (TTBYT), kỹ thuật chẩn đoán và điều trị. Mục đích của phân hạng bệnh viện là để hoàn chỉnh về tổ chức, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, chất lƣợng phục vụ ngƣời bệnh, phân tuyến kĩ thuật điều trị, xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dƣỡng cán bộ [15].
Về dịch vụ khám chữa bệnh nội trú, Nhà nƣớc vẫn đóng vai trò chủ đạo trong cung ứng dịch vụ y tế với 980 bệnh viện Nhà nƣớc (trong đó 39 bệnh viện Trung ƣơng, 331 bệnh viện tỉnh và 610 bệnh viện huyện) với 154.000 giƣờng bệnh và 85 bệnh viện tƣ nhân với 5.800 giƣờng bệnh. Bình quân có 24 giƣờng bệnh/10. Nếu không tính giƣờng bệnh lƣu ở trạm y tế xã, thì số giƣờng bệnh/10.000 dân của Việt Nam là 19,2 (trong đó 18,5 giƣờng bệnh công lập/10 000 dân) [6]. Y tế tuyến cơ sở Ở Việt Nam, hệ thống tổ chức y tế đƣợc chia thành 4 tuyến: Trung ƣơng, tỉnh, huyện và xã, trong tuyến xã có y tế thôn bản.
Y tế cơ sở (YTCS) đƣợc xác định bao gồm y tế tuyến huyện và y tế tuyến xã. Y tế tuyến huyện là tuyến đầu của hệ thống y tế, tiếp xúc trực tiếp với ngƣời dân, gần gũi nhất với tình hình sức khỏe và bệnh tật của nhân dân. Y tế tuyến huyện hoạt động tốt sẽ cung cấp những dịch vụ khám chữa bệnh cơ bản, thuận tiện và hiệu quả nhất, kịp thời chẩn đoán và điều trị, giúp sàng lọc và chuyển bệnh nhân lên tuyến trên khi quá khả năng giải quyết, giúp tiết kiệm đƣợc một phần chi phí cho 6 ngƣời bệnh, cũng nhƣ giảm tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến trên. Mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ, định mức biên chế BVĐK tuyến huyện * Tổ chức của BVĐK tuyến huyện Có 2 hình thức tổ chức BVĐK tuyến huyện là: BVĐK huyện và BVĐK khu vực [4].
Với 2 hình thức trên, trong 10 năm qua hoạt động của BVĐK tuyến huyện tỏ ra hết sức hiệu quả trong công tác CSSK nhân dân trong khu vực. Có các phòng chức năng, gồm: Phòng Kế hoạch tổng hợp và Vật tƣ thiết bị y tế; phòng điều dƣỡng; phòng Hành chính quản trị và Tổ chức cán bộ; phòng Tài chính kế toán. Các khoa gồm có: Khoa Khám bệnh, khoa Hồi sức cấp cứu, khoa Nội tổng hợp, khoa Truyền nhiễm, khoa Nhi, khoa Ngoại tổng hợp, khoa Phụ sản, liên chuyên khoa (Tai - Mũi - Họng, Răng - Hàm - Mặt, Mắt), khoa Xét nghiệm (huyết học, vi sinh, hóa sinh), khoa Chẩn đoán hình ảnh, khoa Giải phẫu bệnh, khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, khoa Dƣợc và khoa Dinh dƣỡng (phụ lục 3).