Tổng quan nghiên cứu

Du lịch cộng đồng đang khẳng định vị thế là mô hình kinh tế xanh mang lại lợi ích kép cho sự phát triển bền vững và sinh kế người dân bản địa. Khảo sát của Tổ chức Phát triển Hà Lan phối hợp cùng Nielsen chỉ ra rằng 65% khách du lịch mong muốn trải nghiệm chiều sâu văn hóa địa phương và 97% du khách sẵn sàng chi trả mức phí cao hơn cho những kỳ nghỉ thân thiện với môi trường cũng như hỗ trợ người nghèo. Tại thành phố Cần Thơ – trung tâm kinh tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và là địa phương vinh dự đón nhận giải thưởng Cảnh quan Châu Á vào tháng 10 năm 2016 – hoạt động du lịch sinh thái sông nước miệt vườn đã phát triển từ rất sớm. Tuy nhiên, mô hình du lịch cộng đồng gắn liền với chuỗi giá trị nông nghiệp tại cồn Sơn thuộc phường Bình Thủy mới chính thức đi vào vận hành từ tháng 5 năm 2015 dưới sự khởi xướng của thanh niên địa phương và ban đầu thu hút 14 hộ dân liên kết khai thác vườn cây ăn trái kết hợp đón khách.

Mặc dù có tiềm năng phong phú, điểm du lịch cồn Sơn đối mặt với nhiều thách thức như cơ sở hạ tầng giao thông thủy - bộ còn sơ khai, sản phẩm trải nghiệm có tính trùng lặp cao và hoạt động quảng bá chưa được đầu tư bài bản. Số lượng du khách quốc tế đến cồn vẫn chiếm tỷ trọng khiêm tốn so với tiềm năng thực tế. Xuất phát từ thực trạng trên, đề tài nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng tham gia du lịch của 16 hộ gia đình và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của 197 du khách trong giai đoạn từ năm 2014 đến đầu năm 2017. Mục tiêu trọng tâm là lượng hóa các nhân tố chi phối trải nghiệm của du khách, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chỉ số hài lòng của khách hàng và định vị thương hiệu du lịch cồn Sơn bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa các trường phái lý thuyết kinh điển về quản trị chất lượng dịch vụ và hành vi người tiêu dùng:

Thang đo chất lượng dịch vụ SERVQUAL do Parasuraman và các cộng sự thiết lập năm 1988 gồm 5 thành phần: Phương tiện hữu hình, Độ tin cậy, Sự đáp ứng, Năng lực phục vụ và Sự đồng cảm. SERVQUAL khẳng định chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa kỳ vọng ban đầu và cảm nhận thực tế của khách hàng. Mô hình Chỉ số hài lòng khách hàng Hoa Kỳ ACSI của Fornell năm 1996 và mô hình Chỉ số hài lòng khách hàng Việt Nam HHSI của tác giả Lê Văn Huy làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa chất lượng cảm nhận, giá trị cảm nhận, sự hài lòng và lòng trung thành của người tiêu dùng.

Trong lĩnh vực du lịch cộng đồng, nghiên cứu kế thừa định nghĩa của tổ chức REST năm 1997 và tác giả Bùi Thị Hải Yến năm 2012, khẳng định bản chất của mô hình là phương thức phát triển có sự tham gia chủ động của cộng đồng địa phương nhằm tạo ra lợi ích kinh tế - xã hội, bảo tồn môi trường sinh thái và văn hóa truyền thống. Trên cơ sở tổng hợp từ các mô hình nghiên cứu homestay tại Malaysia của tác giả Ismail năm 2016 và nghiên cứu du lịch miệt vườn tại Tiền Giang của tác giả Lê Văn Hưng năm 2013, mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 5 yếu tố độc lập: Hữu hình, Tin cậy, Đáp ứng, Đảm bảo và Hình ảnh tác động trực tiếp đến biến phụ thuộc là Sự hài lòng của khách du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để xử lý nguồn dữ liệu đa tầng:

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo hoạt động du lịch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ giai đoạn 2014-2016. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn sâu 16 hộ dân làm du lịch và khảo sát trực tiếp du khách tại cồn Sơn từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2017.

Phương pháp nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn chuyên gia quản lý du lịch cùng hướng dẫn viên địa phương trong 1 đến 2 giờ nhằm hiệu chỉnh thang đo từ 30 biến quan sát ban đầu cho phù hợp với đặc thù sông nước miền Tây. Nghiên cứu định lượng sơ bộ thực hiện trên mẫu 30 du khách nhằm kiểm tra độ rõ ràng của bảng hỏi.

Nghiên cứu định lượng chính thức sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Cỡ mẫu khảo sát được xác định theo quy tắc của Hair năm 1998 và Hoàng Trọng năm 2008, yêu cầu tối thiểu 5 quan sát cho một biến phân tích nhân tố, tương đương mức tối thiểu 150 mẫu cho 30 biến quan sát. Đồng thời, công thức của Tabachnick và Fidell năm 1996 cho hồi quy tuyến tính với 5 biến độc lập yêu cầu cỡ mẫu tối thiểu là 90 quan sát. Tác giả đã phát ra 200 phiếu điều tra và thu về 197 phiếu hợp lệ đạt tỷ lệ 98.5%. Dữ liệu được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS 20 thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy đa biến OLS nhằm xác định chính xác trọng số tác động của từng yếu tố.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả xử lý dữ liệu thực nghiệm đã chỉ ra các phát hiện nổi bật về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại cồn Sơn:

Toàn bộ 5 nhóm yếu tố đều có mối tương quan thuận chiều có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa dưới 5% với sự hài lòng của du khách. Trong đó, hai nhân tố Phương tiện hữu hình và Sự đảm bảo có hệ số tác động chuẩn hóa Beta cao nhất, đóng góp hơn 45% vào biến thiên của mức độ hài lòng chung. Khảo sát 16 hộ gia đình làm vườn kết hợp du lịch cho thấy 100% hộ dân gặp trở ngại lớn về nguồn vốn đầu tư hạ tầng và hơn 80% hộ thiếu lao động có chuyên môn nghiệp vụ lữ hành.

Về cơ cấu thị trường, khách du lịch nội địa chiếm trên 88% tổng lượt khách, trong khi khách quốc tế chỉ đạt mức xấp xỉ 12%. Nguồn tiếp cận thông tin của du khách có sự phân hóa mạnh: hơn 62% khách biết đến cồn Sơn qua hình thức truyền miệng và chia sẻ cá nhân trên mạng xã hội, trong khi tỷ lệ tiếp cận qua các kênh xúc tiến du lịch chính thống chỉ đạt khoảng 15%. Mức độ yêu thích các dịch vụ trải nghiệm miệt vườn như tát mương bắt cá, làm bánh dân gian đạt điểm đánh giá trung bình 4.15 trên thang đo 5 điểm, nhưng có đến 68% du khách nhận định các hoạt động này chưa tạo được sự khác biệt rõ rệt so với các khu du lịch sinh thái khác tại Bến Tre hay Tiền Giang.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân tích cho thấy điểm nghẽn lớn nhất của du lịch cồn Sơn nằm ở phương tiện hữu hình và công tác kết nối giao thông. Do đặc thù cồn biệt lập trên sông Hậu, việc di chuyển hoàn toàn phụ thuộc vào đò ngang với bến bãi tạm bợ, thiếu nhà chờ đạt chuẩn và hệ thống nhà vệ sinh công cộng chưa đồng bộ. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Ismail năm 2016 tại Malaysia và nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nhân năm 2013 tại Đồng bằng sông Cửu Long, khi khẳng định hạ tầng lưu trú và phương tiện vận chuyển là điều kiện tiên quyết định hình mức độ hài lòng của du khách.

Sự thiếu liên kết chuỗi giữa 16 hộ gia đình dẫn đến tình trạng cạnh tranh cục bộ, trùng lặp sản phẩm và thiếu quy trình phục vụ chuyên nghiệp. Về mặt trình bày trực quan, các tương quan này được thể hiện rõ qua biểu đồ phân tán hồi quy và bảng ma trận trọng số nhân tố EFA, phản ánh rõ xu hướng gia tăng tuyến tính của sự hài lòng khi điểm số cảm nhận về sự tin cậy và hình ảnh điểm đến được cải thiện. Điểm sáng lớn nhất là thái độ niềm nở, mến khách và trung thực của người dân cồn Sơn được du khách chấm điểm trung bình đạt 4.35 trên 5 điểm, tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng thương hiệu du lịch có trách nhiệm.

Đề xuất và khuyến nghị

Để phát triển bền vững mô hình du lịch cộng đồng cồn Sơn, các nhóm giải pháp hành động cụ thể cần được triển khai đồng bộ:

Nâng cấp cơ sở vật chất và hạ tầng hữu hình: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cần Thơ phối hợp cùng Ủy ban nhân dân quận Bình Thủy đầu tư nâng cấp bến tàu du lịch đạt chuẩn an toàn thủy nội địa, lắp đặt hệ thống biển chỉ dẫn song ngữ và kiên cố hóa 100% các tuyến đường trục chính trên cồn trước quý 4 năm 2018. Mục tiêu nâng mức đánh giá hài lòng về phương tiện hữu hình từ 3.65 lên trên 4.20 điểm.

Chuẩn hóa điều kiện an toàn, an ninh và vệ sinh thực phẩm: Ban Quản lý Du lịch cồn Sơn phối hợp với Chi cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm tổ chức kiểm định định kỳ 3 tháng một lần tại 100% cơ sở phục vụ ăn uống. Thiết lập bảng niêm yết giá công khai tại các điểm tiếp đón nhằm đảm bảo tính minh bạch, hạn chế triệt để tình trạng chèo kéo, duy trì tỷ lệ 0% phản ánh tiêu cực về giá cả.

Đào tạo kỹ năng nghiệp vụ và nâng cao năng lực đáp ứng: Trung tâm Phát triển Du lịch Cần Thơ mở các khóa tập huấn kỹ năng hướng dẫn tại điểm, nghiệp vụ homestay, sơ cứu y tế và giao tiếp tiếng Anh cơ bản cho ít nhất 50 lao động địa phương trong giai đoạn 2018-2019. Mục tiêu nâng tỷ lệ đáp ứng kịp thời các yêu cầu của du khách đạt trên 90%.

Xây dựng chiến lược truyền thông và định vị hình ảnh thương hiệu: Sở Du lịch chủ trì xây dựng bộ nhận diện thương hiệu số cho cồn Sơn, thiết lập trang thông tin quảng bá chính thức và đẩy mạnh liên kết với hơn 20 doanh nghiệp lữ hành lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh. Phấn đấu tăng tỷ lệ khách quốc tế từ mức 12% lên mức 25% trong vòng 2 năm.

Thành lập Hợp tác xã Du lịch để củng cố sự tin cậy: Vận động 16 hộ gia đình tham gia mô hình hợp tác xã dịch vụ du lịch nhằm điều phối luồng khách, phân chia nguồn thu công bằng và xây dựng đường dây nóng xử lý sự cố trong vòng 15 phút.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng trong hệ sinh thái du lịch:

Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ cùng chính quyền địa phương có thể sử dụng bộ chỉ số hồi quy 5 nhân tố làm căn cứ khoa học để ban hành đề án phát triển du lịch cộng đồng cấp tỉnh giai đoạn 2018-2025.

Các hộ dân và tổ chức kinh doanh du lịch cộng đồng: 16 hộ dân tại cồn Sơn và các cộng đồng làm du lịch tại Phong Điền, Cái Răng có thể áp dụng trực tiếp các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm, niêm yết giá và kỹ năng giao tiếp để chuẩn hóa quy trình đón tiếp khách.

Doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển sản phẩm du lịch: Các công ty du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ có dữ liệu thực chứng về thị hiếu du khách để thiết kế tour trải nghiệm miệt vườn chuyên sâu, tránh tình trạng trùng lặp dịch vụ giữa các điểm đến.

Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Du lịch: Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc vận dụng mô hình SERVQUAL vào thực tế du lịch sông nước Việt Nam, cung cấp quy trình khảo sát định lượng mẫu đạt độ tin cậy cao.

Câu hỏi thường gặp

Yếu tố nào có tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của du khách tại cồn Sơn? Phương tiện hữu hình là yếu tố tác động lớn nhất, chiếm hơn 25% tỷ trọng ảnh hưởng trong mô hình hồi quy. Do cồn Sơn là điểm đến biệt lập giữa sông, các yếu tố cảnh quan, bến bãi, phương tiện vận chuyển đường thủy và hạ tầng lối đi nội bộ tạo ấn tượng trực quan đầu tiên quyết định đánh giá của du khách.

Cỡ mẫu 197 du khách và 16 hộ dân có đủ độ tin cậy khoa học không? Cỡ mẫu 197 phiếu hợp lệ hoàn toàn đáp ứng tiêu chuẩn của Hair năm 1998, vượt mức tối thiểu 150 mẫu cho 30 biến quan sát EFA và vượt mức 90 mẫu cho phân tích hồi quy tuyến tính. Việc khảo sát 16 hộ dân bao quát toàn bộ 100% số hộ tham gia du lịch tại cồn Sơn thời điểm năm 2017.

Nghiên cứu đã điều chỉnh thang đo SERVQUAL gốc như thế nào? Dựa trên tham vấn chuyên gia ngành du lịch Cần Thơ, mô hình giữ nguyên các biến hữu hình, tin cậy, đáp ứng, đồng thời tích hợp yếu tố năng lực phục vụ thành sự đảm bảo và bổ sung yếu tố hình ảnh điểm đến để phản ánh chính xác đặc thù của du lịch sinh thái bản địa.

Nguyên nhân chính khiến lượng khách quốc tế đến cồn Sơn còn thấp là gì? Khách quốc tế chỉ chiếm khoảng 12% do cồn Sơn chưa có hệ thống quảng bá đa ngôn ngữ chính thức và hơn 62% du khách đến cồn chỉ qua kênh truyền miệng. Bên cạnh đó, các hộ dân thiếu nhân lực có khả năng giao tiếp tiếng Anh cơ bản và thiếu tiện ích thanh toán quốc tế.

Các điểm du lịch sinh thái khác tại miền Tây có thể ứng dụng mô hình này không? Mô hình hoàn toàn có thể nhân rộng tại các điểm du lịch miệt vườn như cù lao Thới Sơn ở Tiền Giang hay cồn Ấu tại Cần Thơ. Thang đo 5 nhân tố đã được kiểm định độ tin cậy với hệ số Cronbach's Alpha đều đạt trên 0.70, đảm bảo tính phổ quát cho du lịch sinh thái sông nước.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập và kiểm định thành công mô hình 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách tại điểm du lịch cộng đồng cồn Sơn, thành phố Cần Thơ gồm: Hữu hình, Đảm bảo, Đáp ứng, Hình ảnh và Tin cậy.
  • Nghiên cứu định lượng chỉ ra rằng cơ sở vật chất hữu hình và tính an toàn, đảm bảo là hai trụ cột có mức độ tác động mạnh nhất đến quyết định đánh giá của du khách với tỷ trọng trên 45%.
  • Công trình đã làm rõ thực trạng vận hành của 16 hộ gia đình làm du lịch, vạch rõ các điểm nghẽn then chốt về thiếu hụt vốn đầu tư hạ tầng, nhân lực chuyên môn và kênh quảng bá thương hiệu.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp chính sách mang tính thực tiễn cao, xác định rõ chủ thể thực hiện, lộ trình hoàn thành trước năm 2019 và các chỉ số đo lường hiệu quả cụ thể.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu thực chứng và khung lý thuyết chuẩn hóa, mở đường cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về lòng trung thành và hành vi chi tiêu của du khách tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội du lịch và cộng đồng dân cư cồn Sơn cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các hàm ý chính sách trên nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, đưa cồn Sơn trở thành điểm sáng tiêu biểu của du lịch sinh thái Cần Thơ.