CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC 1.1 Các khái niệm liên quan 1.1 Sự hài lòng công việc Có nhiều định nghĩa các khác nhau về Sự hài lòng công việc, tuy nhiên một người lao động được xem là có sự hài lòng trong công việc khi được đáp ứng đầy đủ các yếu tố về mặt vật chất và tinh thần tại nơi làm việc (Graham, 1982; Schermerhorn, 1993; Spector, 1997; Trịnh Tú Anh và Lê Thị Phương Linh, 2014). Hiện nay, khái niệm về sự hài lòng công việc vẫn chưa được các nhà nghiên cứu thống nhất do xuất phát từ những góc nhìn khác nhau, các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Hoppock (1938) cho rằng sự hài lòng với công việc là tổng hợp sự hài lòng về tâm lý, sinh lý và các yếu tố môi trường khiến cho con người thật sự cảm thấy hài lòng về công việc của họ. Trong khi đó, công trình nghiên cứu của Locke (1969) về lý thuyết về sự hài lòng trong công việc cung cấp nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu này.
Locke (1969) định nghĩa sự hài lòng công việc là “trạng thái cảm xúc dễ chịu của một người bắt nguồn từ việc đánh giá công việc của một người đã đạt được hoặc tạo điều kiện thuận lợi để đạt được các giá trị công việc”. Điều này có thể hiểu là mức độ hài lòng công việc sẽ phụ thuộc vào mức độ đạt được các kết quả trong công việc của nhân viên có tốt hay không. Theo Vroom (1964), sự hài lòng của nhân viên là sự phản ứng của nhân viên đối với vai trò của họ trong công việc. Lane và Steiner (1991) cho rằng việc làm hài lòng một cá nhân được kết nối sự hài lòng 6 của cuộc sống của người đó, theo đó những người đang hài lòng với công việc của họ sẽ có xu hướng thỏa mãn với cuộc sống của chính họ và ngược lại.
Trong doanh nghiệp, sự hài lòng công việc của nhân viên sẽ dẫn đến một hiệu quả làm việc tốt hơn, đồng thời tạo ra trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng và có thể đem lại nhiều khách hàng tiềm năng cho doanh nghiệp. Nhìn chung, các định nghĩa về sự hài lòng công việc chia thành hai trường phái khác nhau. Đầu tiên, sự hài lòng công việc được xem xét như là một biến chung mang tính chất cảm xúc (tích cực và tiêu cực) của người lao động tới công việc và có thể tác động đến niềm tin, hành vi của người lao động. Thứ hai, trường phái định nghĩa về sự hài lòng công dựa trên nhiều khía cạnh công việc khác nhau (Tống Viết Bảo Hoàng và Hoàng Trọng Hùng, 2017).2 Thuyết nhu cầu của Maslow Thuyết Nhu cầu của Abraham Maslow là một lý thuyết về tâm lý học được đề xuất lần đầu tiên trong bài viết “A Theory of Human Motivation” năm 1943 tại Đánh giá Tâm lý học.
Maslow, nhu cầu của con người là khởi nguồn cho những hành vi của họ. Hệ thống phân cấp nhu cầu của A. Maslow là một lý thuyết tạo động lực trong tâm lý học bao gồm năm thang bậc khác nhau từ “đáy” lên tới “đỉnh”, theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng. Hệ thống này phản ánh mức độ “cơ bản” của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội (Đào Phú Quý, 2010).1: Bậc thang nhu cầu của Abraham Maslow (Nguồn: Abraham Maslow, 1943) Theo Maslow, các nhu cầu cao hơn trong hệ thống phân cấp sẽ được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng.
Bậc thang nhu cầu của A. Maslow được đặt ra dựa trên hai nhóm nhu cầu: nhu cầu thiếu hụt và nhu cầu tăng trưởng. Trong đó, nhu cầu thiếu hụt bao gồm bốn cấp đầu: nhu cầu sinh học; nhu cầu an ninh, an toàn; nhu cầu xã hội; nhu cầu được đánh giá, tôn trọng. Ngoài ra, nhóm nhu cầu tăng trưởng bao gồm nhu cầu về sự hoàn thiện.
Nhóm nhu cầu thiếu hụt: o Bậc 1: Nhu cầu sinh lý Đây là nhu cầu được coi là điểm khởi đầu cho lý thuyết động lực và có cái tên khác là nhu cầu cơ thể. Nhu cầu sinh lý là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu để đảm bảo sự tồn tại của con người (Đoàn Phú Quý, 2010). Các nhu cầu cơ bản nằm trong cấp này bao gồm: ăn, uống, ngủ nghỉ, chỗ ở, quần áo, thở,. Nếu những nhu cầu này không được đáp ứng, cơ thể con người không thể hoạt động tối ưu.
Maslow và Lewis (1987) coi nhu cầu sinh lý là quan trọng nhất vì tất cả các nhu cầu khác đều trở thành thứ yếu cho đến khi những nhu cầu sinh lý được đáp ứng bởi với một con người đang thiếu mọi thứ trong cuộc sống một cách tiêu cực thì nhu cầu thiết yếu nhất của họ sẽ là nhu cầu sinh lý chứ không phải là bất kỳ một nhu cầu nào khác. Theo McLeod (2007), những nhu cầu sinh lý tuy tương đối tách biệt nhưng vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Bất kỳ nhu cầu sinh lý nào và hành vi thỏa mãn chúng cũng đóng vai trò quan trọng, là cầu nối cho tất cả các loại nhu cầu khác. o Bậc 2: Nhu cầu về an ninh và an toàn Theo Đoàn Phú Quý (2010), con người sẽ có những nhu cầu cao hơn khi được đáp ứng các nhu cầu cơ bản như nhu cầu sinh lý.
Đó là nhu cầu về sự an toàn, không bị đe dọa bằng các yếu tố về an ninh, trật tự, quy định, luật pháp,. Nhu cầu an toàn 8 này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần. Maslow (1987) chỉ ra rằng trên thực tế xuất hiện những tình huống khi nhu cầu về sinh lý bị coi nhẹ hơn nhu cầu về sự an toàn. Theo Maslow (1987), nhu cầu an toàn có thể chi phối hoàn toàn hành vi con người bằng mọi cách qua các cơ quan cảm thụ, cơ quan tác động, trí tuệ và các khả năng khác - những cơ quan được cho là công cụ để đáp ứng sự an toàn.
Theo đó, nhu cầu bậc 2 được coi là sẽ chi phối các nguồn lực của con người trong trường hợp khẩn cấp như chiến tranh, bệnh tật, thảm hoạt tự nhiên, tội phạm, con người mắc bệnh rối loạn thần kinh, chấn thương não và các tình huống nguy hiểm khác. o Bậc 3: Nhu cầu về xã hội Khi cả nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn đều được thỏa mãn, con người sẽ xuất hiện nhu cầu xã hội (Maslow, 1987). Theo McLeod (2007), đây là nhu cầu về các mối quan hệ giữa các cá nhân, từ đó thúc đẩy các hành vi liên quan như tình yêu, tình cảm, sự phụ thuộc, sự thân mật, được chấp nhận, mong muốn được tham gia vào một tổ chức, đoàn thể nào đó. Khi có nhu cầu về xã hội, con người sẽ có những cảm nhận, cảm xúc sâu sắc với sự có mặt hoặc vắng mặt của các mối quan hệ xung quanh họ.
Maslow cho rằng tất cả mọi người đều tìm cách vượt qua cảm giác cô đơn và xa lánh, điều này cũng đồng thời liên quan đến cả việc cho đi và nhận lại tình yêu, tình cảm và cảm giác quen thuộc của con người. o Bậc 4: Nhu cầu được đánh giá, tôn trọng Theo Maslow (1987), tất cả con người trong xã hội (trừ những trường hợp ngoại lệ có bệnh lý đặc biệt) đều có nhu cầu và mong muốn được đánh giá cao về bản thân và được người khác tôn trọng. Khi con người có khả năng xử lý vấn đề bằng năng lực thực sự của chính mình, bản thân họ sẽ sản sinh ra lòng tự trọng cao và mong muốn nhận được sự công nhận và sự tôn trọng từ người khác. Nhu cầu này xuất hiện sau khi con người được thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong một xã hội (Đào Phú Quý, 2010).
9 Maslow (1987) nói rằng nhu cầu bậc 4 có thể được chia thành hai loại. Loại đầu tiên là mong muốn có sức mạnh, đạt được thành tích, sự thỏa đáng, niềm tin trước xã hội và mong muốn được độc lập, tự do, không phụ thuộc. Loại thứ hai là mong muốn về danh tiếng và sự uy tín, hay nói cách khác là việc được biết đến rộng rãi trong xã hội, được công nhận, đánh giá cao và được quý trọng. Ngoài ra, nhà tâm lý học cũng chỉ ra rằng đối với một đứa trẻ hoặc lứa tuổi thanh thiếu niên, mong muốn về giá trị của bản thân xuất hiện trước nhu cầu được tôn trọng hoặc nổi tiếng.
Nhìn chung, cả hai loại này đều dẫn tới sự thỏa mãn về quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin. Việc con người được tôn trọng cho thấy bản thân là một “mắt xích” quan trọng và trở thành người hữu dụng trong hệ thống phân công lao động xã hội (Đào Phú Quý, 2010). Nhóm nhu cầu tăng trưởng: o Bậc 5: Nhu cầu về sự hoàn thiện Theo Maslow (1987), một cá nhân sẵn sàng hành động theo các nhu cầu tăng trưởng khi và chỉ khi các nhu cầu thiếu hụt được đáp ứng đầy đủ. Khái niệm ban đầu của Maslow chỉ bao gồm một nhu cầu tăng trưởng là sự tự thực hiện.
Một người mang nhu cầu này có những đặc trưng riêng như: (1) tập trung vào xử lý các vấn đề; (2) luôn làm mới và trân trọng cuộc sống; (3) đề cao phát triển bản thân và (4) khả năng có những trải nghiệm tốt trong cuộc sống. Sau đó, Maslow đã hoàn thiện hơn tháp nhu cầu trong việc phân biệt nhu cầu phát triển của việc tự hoàn thiện bản thân. Ông xác định hai trong số các nhu cầu phát triển đầu tiên bao gồm: mức độ tự hiện thực hóa phổ biến hơn (Maslow & Lowery, 1998) và nhu cầu tập trung vào việc phát triển hướng tới bản thân cao hơn mức trung bình (Maslow, 1971). Các đặc trưng cho những nhu cầu này bao gồm: (5) nhận thức, hiểu biết và khám phá; (6) nhu cầu thẩm mỹ, cái đẹp và sự cân đối, trật tự; (7) sự tự hiện thực hóa qua việc tìm kiếm sự hoàn thiện bản thân; và (8) sự tự siêu việt - kết nối với một điều gì đó nằm ngoài vùng an toàn của họ để nhận ra tiềm năng của bản thân mình.
Theo quan điểm của Maslow, khi một người có khả năng tự hiện thực hóa 10 và tự siêu việt có thể xử lý nhiều tình huống khác nhau. Nhìn chung, những nhu cầu về sự hoàn thiện là những nhu cầu về chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, mong muốn phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ (Đào Phú Quý, 2010).