CHƯƠNG 1 TỒNG QUAN VỀ CÔNG TY LIÊN DOANH VIỆT – NGA (VIETSOVPETRO) 1. Lịch sử hình thành và phát triển 1. Lịch sử hình thành Vietsovpetro là liên doanh đầu tiên của Việt Nam với nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí và là một biểu tượng của tình hữu nghị Việt Nam – Liên Bang Nga. Liên doanh dầu khí Việt -Xô được thành lập trên cơ sở các Hiệp định Việt – Xô về hợp tác thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam ký ngày 03/07/1980 và Hiệp định Liên Chính phủ Việt Nam – Liên Xô ký ngày 19/06/1981 về việc thành lập Liên doanh dầu khí Việt – Xô.
- Tên đầy đủ: LIÊN DOANH VIỆT-NGA VIETSOVPETRO - Địa chỉ: 105 Lê Lợi, Phường 6, Thành phố Vũng Tàu, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Việt Nam - Lĩnh vực hoạt động: Khai thác dầu khí 1. Ngành nghề kinh doanh Vietsovpetro là một liên doanh với chức năng đa ngành trong các lĩnh vực: - Điều hành khai thác mỏ - Khoan và dịch vụ Địa Vật lý giếng khoan dầu khí - Dịch vụ phân tích thí nghiệm - Thiết kế, chế tạo, lắp ráp các công trình dầu khí biển - Dịch vụ Cảng biển, Vận tải biển - Phòng chống và thu gom dầu tràn. 6 - Vietsovpetro còn là nơi đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ và công nhân lành nghề không chỉ cho Vietsovpetro mà cho cả ngành dầu khí Việt Nam. Nguồn nhân lực Từ khi được thành lập, Liên Doanh Việt Nga Vietsovpetro đã đề xuất nhiều chiến lược và phương pháp hữu hiệu nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ, tập trung vào các cán bộ quản lý, kỹ thuật viên và thợ có tay nghề.
• Gửi các cán bộ quản lý và kỹ thuật viên sang Nga để đào tạo nhằm nâng cao các kỹ năng quản lý và chuyên môn. • Đưa các kỹ thuật viên sang các nước phát triển để học hỏi kỹ thuật mới nhằm phục vụ cho công việc ở Liên Doanh Việt Nga. • Tổ chức các buổi hội thảo khoa học và kỹ thuật nhằm mở rộng mối quan hệ giao lưu trao đổi kiến thức với các quốc gia khác và xí nghiệp khác. • Các trung tâm huấn luyện kỹ thuật và chuyên gia được thành lập nhằm đào tạo tay nghề cho công nhân trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật khác nhau.
• Khuyến khích học tập và nghiên cứu khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất. • Nhờ các chuyên gia của Nga giúp đỡ kỹ thuật viên và công nhân Việt Nam trong kỹ thuật. Đây là một trong các phương pháp hữu hiệu nhất nhằm có được các công nhân tay nghề cao trong thời gian ngắn. Nhân lực của Liên Doanh Việt-Nga (VietsovPetro) khoảng 6000 người được chia về các trụ sở, xí nghiệp, trường đào tạo, khách sạn, trung tâm y tế….Các đơn vị thành viên thuộc Liên Doanh Việt-Nga (VietsovPetro) bao gồm: 7 Hình 1- 1: Sơ đồ tổ chức VietsovPetro 8 1.
Thực trạng công ty và vấn đề cần giải quyết VietsovPetro là một doanh nghiệp có bề dày truyền thống trong lĩnh vực dầu khí ở Việt Nam. Hiện nay, công ty chiếm thị phần thống lĩnh trong lĩnh vực chế tạo các sản phẩm, dịch vụ được sử dụng trong thị trường dầu khí Việt Nam. Xác định con người là yếu tố quyết định thành công của doanh nghiệp, trong chiến lược của mình công ty luôn quan tâm xây dựng các chính sách liên quan đến phát triển nguồn nhân lực hợp lý, nhằm giữ và thu hút lao động giỏi, khai thác phát huy sức lực, trí tuệ của công nhân viên lao động; tạo một môi trường làm việc năng động, nâng cao văn hoá tổ chức, tác phong công nghiệp, từng bước xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm và trình độ. Nguồn nhân lực của công ty chia làm hai mảng chính, đó là mảng công tác tại đất liền và mảng công tác tại các công trình ngoài biển.
Do đó, mức lương mà công ty trả cho các nhân viên cũng phân chia thành nhiều loại tùy thuộc vào đơn vị công tác. Nhưng công ty luôn chủ trương việc áp dụng chính sách lương phải đảm bảo cho người lao động đáp ứng được nhu cầu cơ bản của cuộc sống hàng ngày (cả về vật chất và tinh thần) cho bản thân và gia đình, chú trọng công bằng trong chính sách lương và có tham khảo mặt bằng lương của các công ty khác cùng ngành cũng như cùng địa bàn hoạt động. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, công ty gặp một số khó khăn trong việc ổn định tình hình nhân sự. Nhiều nhân viên có kinh nghiệm, trình độ cao đã quyết định rời bỏ công ty để sang các công ty do nước ngoài đầu tư trong cùng lĩnh vực.
Điều này khiến cho công tác phân công, quản lý, vận hành các công việc gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn nhân lực kinh nghiệm. Đứng trước thực trạng trên, Ban lãnh đạo công ty rất lo lắng. Mặc dù chưa có cơ sở chính thức nhưng Ban lãnh đạo công ty cũng nhận thấy là có sự giảm sút về mức độ thỏa mãn trong công việc của nhân viên tại công ty. Vấn đề cấp thiết đối với Ban lãnh đạo công ty là phải tìm hiểu nguyên nhân vì sao có sự sụt giảm về mức độ thỏa mãn trong công việc của nhân viên tại công ty đồng thời có những giải pháp thích hợp, kịp thời khắc phục tình trạng trên.
Đây là một vấn đề sống còn đối với công ty bởi vì trong bối cảnh hiện nay, nguồn nhân lực là tài sản vô giá của doanh nghiệp, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tồn tại 9 và phát triển trước tiên phải có đội ngũ lao động có chất lượng, toàn tâm toàn ý với doanh nghiệp. Như vậy công ty mới có thể chủ động xây dựng và thực hiện thành công chiến lược kinh doanh của mình. 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ THỎA MÃN TRONG CÔNG VIỆC 2. Định nghĩa về mức độ thỏa mãn trong công việc Thỏa mãn trong công việc có thể đo lường ở mức độ chung, cũng có thể đo lường thỏa mãn với từng thành phần của công việc.
Nếu xét về khía cạnh thỏa mãn chung trong công việc thì theo Dormann và Zapf (2001) định nghĩa rằng đó là thái độ tích cực, hài lòng đối với lãnh đạo và đội ngũ lãnh đạo. Vroom (1964) thì cho rằng thỏa mãn trong công việc là người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức. Còn đối với Locke (1976), thỏa mãn trong công việc được hiểu là người lao động thực sự cảm thấy thích thú đối với công việc của họ. Nhưng khi đứng trên khía cạnh khác về mức độ thỏa mãn với các thành phần công việc thì định nghĩa sẽ có khác đi.
Như Smith, Kendal và Hulin (1969), mức độ thỏa mãn với các thành phần hay khía cạnh của công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc (bản chất công việc; cơ hội đào tạo và thăng tiến; lãnh đạo; đồng nghiệp; tiền lương) của họ. Dựa trên các định nghĩa trên có thể rút ra một định nghĩa chung cho thỏa mãn trong công việc là sự đánh giá của người lao động đối với các khía cạnh liên quan đến việc thực hiện công việc của họ bao gồm lãnh đạo, công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, đồng nghiệp, tiền lương và việc đánh giá này có thể là tích cực hay tiêu cực tùy theo cảm nhận của người lao động. Các yếu tố tác động tới sự thỏa mãn trong công việc 2. Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) Lý thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) sẽ giải thích một số khía cạnh cơ bản của sự thỏa mãn.
Theo Maslow nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc tăng dần: sinh lý, an toàn, xã hội, tự trọng và tự thể hiện. Sau khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp bấc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện. Từ lý thuyết này, ta có thể thấy nhà quản lý cần phải xác định được nhân viên của mình đang ở cấp bậc nhu cầu nào để từ đó động viên nhân viên của mình bằng cách đáp ứng các nhu cầu cá nhân đó của họ, và 11 khi cá nhân thỏa mãn ở cấp bậc hiện tại sẽ khiến họ có động lực hơn để tiến lên cấp bậc cao hơn. Các nhu cầu trong lý thuyết này đều được đề cập dưới dạng các biến khác nhau.
Ví dụ như sự thỏa mãn về nhu cầu sinh lý và an toàn có thể được thể hiện ở các biến đo lường sự thỏa mãn về thu nhập và phúc lợi công ty. Tương tự, sự thỏa mãn về nhu cầu xã hội và tự trọng được thể hiện ở các biến thể hiện sự thỏa mãn về mối quan hệ với cấp trên và với đồng nghiệp cũng như biến thể hiện quyền tự chủ nhất định trong thực hiện công việc. Thuyết công bằng của Adam (1963) J. Stacey Adams (1963) cho rằng nhân viên có xu hướng đánh giá sự công bằng bằng cách so sánh công sức họ bỏ ra so với những thứ họ nhận được đồng thời họ so sánh tỷ lệ đó của họ với tỷ lệ đó của những đồng nghiệp trong công ty.
Nếu kết quả của sự so sánh đó là ngang nhau tức công bằng thì họ sẽ tiếp tục duy trì nỗ lực và hiệu suất làm việc của mình. Nếu thù lao nhận được vượt quá mong đợi của họ, họ sẽ có xu hướng gia tăng công sức của họ trong công việc, ngược lại khi thù lao họ nhận được thấp hơn so với đóng góp của họ, họ sẽ có xu hướng giảm bớt nỗ lực hoặc tìm các giải pháp khác như vắng mặt trong giờ làm việc, làm việc không tập trung, không năng suất hoặc thôi việc (Pattanayak, 2005). Mô hình đặc điểm công việc của Hackman & Oldham (1974) Hackman và Oldham (1974) đã xây dựng mô hình này nhằm xác định cách thiết kế công việc sao cho người lao động có được động lực làm việc ngay từ bên trong họ cũng như tạo được sự thỏa mãn công việc nói chung và tạo được hiệu quả công việc tốt nhất. Để xây dựng được thiết kế công việc như thế, theo hai nhà nghiên cứu này, công việc trước hết phải sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau, người nhân viên phải nắm rõ công việc từ đầu đến cuối và công việc phải có tầm quan trọng nhất định.
Ba điều này sẽ mang lại ý nghĩa trong công việc cho người lao động cũng như mang lại sự thú vị cho họ. Kế đến, công việc phải cho phép nhân viên thực hiện một số quyền nhất định nhằm tạo cho nhân viên cảm nhận được trách nhiệm về kết quả công việc của mình.