Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về sự hai lòng của người lao động. - Chương 2: Cơ sở lý luận về sự hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hải lòng của người lao động. - Chương 3: Thiết kế và Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên văn phòng FDI tại Hà Nội.
- Chương 5: Một số biện pháp và khuyến nghị nâng cao sự hài lòng của nhân viên văn phòng FDI. 13 Chương 1: TONG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VE SỰ HAI LONG CUA NGƯỜI LAO DONG 1. Tinh hình nghiên cứu về sự hài long của người lao động 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Hiện nay, hầu hết trong các công trình nghiên cứu đều chưa có định nghĩa thỏa đáng, thống nhất về sự hài lòng với công việc của người lao động.
Các tác giả đều thừa nhận rằng, chỉ có thể có khái niệm về sự hài lòng của người lao động vì sự khảo sát và đánh giá của chúng ta không thể bao hàm được tất cả các yếu tố quan trọng mà người lao động sử dung dé đánh giá sự hài lòng của chính họ. Có nhiều yếu tố, cả bên trong và bên ngoai tác động tới sự hải lòng của người lao động: - Sự hai long là những kinh nghiệm mà người lao động đã trải qua trong quá trình làm việc tại các tô chức, doanh nghiệp; sự đánh giá chủ quan của mỗi người về mức độ quan tâm chăm sóc mà họ nhận được so với sự mong đợi của họ, hoặc sự thỏa mãn các mong đợi của người lao động khi được làm việc tại t6 chức, doanh nghiệp của họ. - Các yếu tố bên trong của người lao động: bao gồm các đặc điểm cá nhân như quan điểm, triết lý sống, khí chất (nội tâm, ngoại tâm, lầm lỳ hay hoạt bát) của mỗi người lao động khác nhau sẽ có phản ứng khác nhau với cùng một hoàn cảnh. Nghiên cứu sinh chưa đặt van đề nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố bên trong đến sự hài lòng của người lao động trong phạm vi của Luận án này.
- Các yếu tố bên ngoài: theo các tài liệu nghiên cứu; đến nay, có khoảng 40 yếu tố khác nhau (tùy thuộc vào từng quốc gia, vùng lãnh thổ và thời điểm nghiên cứu) ảnh hưởng đến sự hai lòng của người lao động, bao gồm: các yếu tố về thu nhập, phúc lợi, phát triển sự nghiệp, địa vị xã hội và các yêu tô thuộc về điêu kiện lao động (tính chat, tô chức và môi trường,. 14 Trên thế giới, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người lao động trong các tổ chức, doanh nghiệp, nhằm mục đích tăng cường chất lượng, năng suất lao động, gắn bó lâu dài và góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển của doanh nghiệp được tiến hành từ đầu những năm 1900. Các công trình nghiên cứu có tính kế thừa và hoàn thiện theo thời gian và cũng tùy thuộc vào các quốc gia, vùng miễn có tính đặc thù, riêng biệt. Trên cơ sở thuyết nhu cầu của A.
Maslow (1943), Simons & Enz (1995) đã tiến hành nghiên cứu sự hai lòng của người lao động, bao gồm hai yếu tô quan trọng là thu nhập và phúc lợi ảnh hưởng đến sự hai lòng (nhu cầu bậc thấp trong Thuyết nhu cầu A. Maslow) trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp. Lương là yếu tố quyết định, khoản tiền mà người lao động nhận được khi họ làm việc dé bảo đảm cho cuộc sống ôn định, bù dap và tái san xuất sức lao động của họ và gia đình. Theo Molander (1996), lương còn có thé phá vỡ những thái độ không tích cực với công việc của người lao động.
Các tác giả Crewson (1997); Marc Buelens (2007) khăng định lợi ích kinh tế, mà cụ thể ở đây là lương, là yếu t6 có ý nghĩa quan trọng nhất đến sự hài lòng của người lao động trong khu vực tư nhân. Mặt khác, lương, thưởng cũng là yếu tố quan trọng thu hút lao động có tay nghề cao. Kết quả nghiên cứu của Higginbotham (1997) cho thấy, lương cao là cần thiết, tuy nhiên quan trọng hơn là việc công băng trong trả lương có mối tương quan thuận đến quyết định gắn của người lao động thông qua sự hài lòng và động lực làm việc của họ. Nghiên cứu của Oshagbemi (2000) cũng cho biết kết quả tương tự.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Luddy (2005) lại cho rằng, chưa có tương quan của tiền lương đến sự hài lòng công việc. Người lao động có thể có mức thu nhập cao nhưng họ vẫn không cảm thấy hài lòng khi công việc không phù hợp hoặc không thê hòa nhập. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của phúc lợi đến sự hài lòng của người lao động được quan tâm nghiên cứu muộn hơn. Nghiên cứu của Artz (2008) cho thấy, phúc lợi có vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ hai lòng: 15 - Theo Manju & Mishra (2012), phúc lợi bao gom các lợi ich, cơ sở vat chất và dịch vụ khác nhau được cung cấp cho người lao động bởi người sử dụng lao động dé thúc đây và động viên nhân viên của họ.
Phúc lợi đối với người lao động là một lĩnh vực của phúc lợi xã hội, bao hàm trạng thái khỏe mạnh, hạnh phúc, hài lòng, bảo ton và phát triển của nguồn nhân lực và cũng giúp thúc day động lực của người lao động (Tiwari, 2014). Cũng theo Tiwari sức khỏe, sự an toàn và phúc lợi là những thước do dé thúc đây hiệu qua của người lao động. Sự đa dạng các biện pháp phúc lợi do người sử dụng lao động cung cấp sẽ có tác động ngay lập tức đến sức khỏe, thé chat và tinh than, sự tỉnh táo và hiệu quả chung của người lao động và do đó góp phần vào năng suất cao hơn. Kết quả Evelyne (2018) cho thấy, các chính sách phúc lợi có liên quan đến sự hải lòng, cải thiện hiệu suất làm việc của người lao động.
Ngược lại, phúc lợi không đầy đủ có thê mang lại những xung đột không đáng có, khủng hoảng và đình trệ sản suất (Hanaysha & Majid, 2018). - Bandara&cs (2020), điều tra tác động của phúc lợi trong các khách sạn Sri Lanka có vốn đầu tư nước ngoài đối với mức độ hài lòng trong công việc của nhân viên. Tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp như khảo sát bảng hỏi với thang đo likert 5 mức độ, hệ số tương quan Pearson, hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích hồi quy. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có mối quan hệ đáng kế giữa phúc lợi và sự hải lòng của nhân viên.
Phúc lợi của nhân viên trong ngành khách sạn có tác động đến sự hài lòng, khiến cải thiện năng suất và chất lượng dịch vụ của ho (Gabriel & Nwaeke, 2015). Cac tac gia Chepuri & Rao (2017); Edmans, (2012) khuyén cáo, mọi tô chức đều phải cung cấp cho người lao động các phúc lợi cơ bản và tuân thủ luật quản lý người lao động về sức khỏe. Điều kiện lao động được cho là có ảnh hưởng đáng ké đến sự hai lòng của nhân viên và được nhiều tác giả đề cập nghiên cứu từ khá sớm: - Theo F. Herzberg (1959) điều kiện làm việc thuộc nhóm thứ hai (nhu cầu bậc trung bình) của người lao động, yếu tố này có thé ngăn ngừa sự bat 16 mãn của người lao động và góp phần gián tiếp tăng sự hài lòng trong công việc của người lao động.
Bockerman & Ilmakunnas (2006) cho rằng, điều kiện lam việc cung cấp cho nhân viên bởi tổ chức như mức độ an toàn, tiện nghi, sức khỏe, hạnh phúc, v. Theo Nwachukwu & Chladkova (2017) điều kiện làm việc là đảm bảo một môi trường làm việc thuận lợi có thé cải thiện hiệu suất của tô chức đó. Các điều kiện làm việc có lợi khi tổ chức cung cấp cho người lao động, bao gồm: môi trường an toàn và lành mạnh, cơ sở vật chat và các yêu tô khác như ánh sáng, thông gió tốt,. - Nghiên cứu của Arnold & Feldman (1986) cho thấy, nếu điều kiện làm việc kém, người lao động không hài lòng và cho rằng, người quản lý không đánh giá cao hoặc không ghi nhận những nỗ lực, công việc của họ đã hoàn thành.
Nghiên cứu về điều kiện lao động của Baron & Greenberg (2003) cho biết, điều kiện làm việc không tiện lợi, ảnh hưởng đến thé chat va tinh thần có tác động tiêu cực sự hài lòng của người lao động. Nghiên cứu của Ingersoll (2001) cho biết, điều kiện làm việc không đầy đủ của một nhà trường làm giảm vị thế của nghề nghiệp, gây khó khăn cho việc tuyển dụng giáo viên mới và ngay cả việc giữ chân giáo viên cũ cũng khó khăn hơn. - Tanjeen (2013), sử dụng bảng điều tra bằng câu hỏi, thang đo likert 5 mức độ, phân tích hồi quy nghiên cứu mức độ hài lòng với công việc của nhân viên trong ngành công nghiệp viễn thông có vốn đầu tư nước ngoài ở Bangladesh cho biết, điều kiện làm việc có liên quan đáng ké đến sự hai long trong công việc. Tác giả khuyến cáo, các doanh nghiệp nên cung cấp điều kiện lao động cần thiết như thông tin, công cụ, thiết bị,.
cho nhân viên để thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả nhất. Masood&cs (2014), nghiên cứu các yếu tô ảnh hưởng tới sự hài lòng của nhân viên trong các tổ chức công và tư nhân của Pakistan. Tác giả tiến hành khảo sát 155 mẫu quan sát thuận tiện tại thành phố Bahawalpur; sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả, kiểm tra độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích hồi quy. Kết quả nghiên cứu cho 17 thấy, điều kiện làm việc liên quan đáng ké đến sự hài lòng của nhân viên.
Aslam &cs (2015), điều tra nghiên cứu về môi trường làm việc và mức độ an toàn của nhân viên ngân hàng của Lahore, Pakistan cũng cho kết quả tương tự. - Một số tác giả khác như García-Almeida&cs (2014), Javed&cs (2014), Cheginy&cs (2014), Rumman (2011), Awan&cs (2014), Mishra&cs (2020), Parvin & Kabir (2011) đều cho biết, điều kiện làm việc ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên. Người lao động đều quan tâm đến điều kiện làm việc của mình và họ sẽ cảm thấy hài lòng nếu thời gian làm việc phù hợp va môi trường làm việc an toàn, thoải mái. Khác với trước kia, gần đây yếu tổ “Đào tạo và thăng tiến” được nhiều người quan tâm, đặc biệt là thế hệ trẻ và thiên về nền văn hóa Á Đông: - Kết quả nghiên cứu của Bhardwaj&cs (2021) cho biết, sự thăng tiến có ảnh hưởng đáng kể đến sự hai lòng trong công việc của người lao động, đặc là nhân viên quản lý.