Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở khoa học và thực tiễn về sử dụng nhiên liệu sạch trong ngành giao thông vận tải. Chương 3: Thực trạng sử dụng nhiên liệu sạch trong ngành giao thông vận tải thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam. Chương 4: Giải pháp khuyến khích sử dụng nhiên liệu sạch trong ngành giao thông vận tải thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam.
5 C ươ : TỔNG AN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨ 1. Nghiên cứu trên thế giới về tăng trưởng xanh Theo OECD (2010), tăng trưởng xanh là cách thức tăng trưởng và phát triển kinh tế gắn với ngăn chặn suy thoái môi trư ng, ảnh hướng đa dạng sinh học và sử dụng tài nguyên thiên nhiên thiếu bền vững. Chiến lược tăng trưởng xanh được xây dựng dựa trên các sáng kiến về phát triển bền vững của nhiều quốc gia với mục đích sử dụng các nguồn lực sạch hơn để tăng trưởng và phát triển kinh tế [42]. UNESCAP cho rằng tăng trưởng xanh như một mô hình phát triển mới trong đó phát triển kinh tế củng cố và đảm bảo bền vững về môi trư ng [60].
Để thực hiện điều đó cần phải có chiến lược tổng thể nhằm thay đổi cấu trúc nền kinh tế theo hướng tích hợp, bổ sung và củng cố lẫn nhau. Cụ thể, tăng trưởng xanh cần kết hợp tập trung giảm sự khan hiếm các nguồn lực tự nhiên, giảm sự khan hiếm về sinh thái và thảm họa về môi trư ng, giảm phát thải khí nhà kính thông qua giảm sử dụng năng lượng gây ô nhiễm (UN, 2010) [117]. Theo thống kê của UNEP (2010), trong khi kinh tế thế giới đã tăng trưởng gấp 4 lần trong 25 năm qua thì 60% các hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái của thế giới là cơ sở sinh kế quan trọng lại đang xuống cấp hoặc đang bị sử dụng thiếu hiệu quả. Nguyên nhân chủ yếu là sự khai thác liên tục tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho mục đích tăng trưởng kinh tế mà không chú ý tới khả năng tái tạo, khiến hệ sinh thái đang ngày càng xuống cấp.
Thêm vào đó, cùng lúc phải đối mặt nhiều cuộc khủng hoảng liên tiếp, đặc biệt là khủng hoảng tài chính và kinh tế gần đây, đã làm lộ ra những yếu kém và rủi ro trong cấu trúc mô hình kinh tế và sự phụ thuộc vào khai thác nhiên liệu hoá thạch, sự ô nhiễm môi trư ng, gia tăng quá mức phát thải khí nhà kính gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu. Chính những áp lực này đã thúc đẩy cộng đồng quốc tế nói chung và các quốc gia nói riêng tìm ra những giải pháp để phát triển hài hòa hơn với thiên nhiên. Vì vậy, sản xuất, phân phối, sử dụng NLS đóng vai trò ngày càng quan trọng trong chiến lược tăng trưởng xanh. Theo đó, sản xuất và sử dụng nhiên liệu sạch sạch góp phần chống lại những tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, đồng th i giúp theo đuổi các mục tiêu phát triển bền vững [127].
Báo cáo Kinh tế Xanh (The Green Economy Report) của UNEP (2011) được biên soạn bởi Chương trình Sáng kiến Kinh tế Xanh (Green Economy Initiative) phối hợp với các nhà kinh tế và các chuyên gia trên toàn thế giới. Báo cáo chú trọng đến việc đạt được các mục tiêu mà cộng đồng quốc tế đã đặt ra, bao gồm Chương trình nghị sự 21 tại Họi nghị cấp cao của Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững (RIO 20) và Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ tại Hội nghị thượng đỉnh thiên niên kỷ [128]. 6 Bằng phương pháp nghiên cứu trư ng hợp kinh tế (chuyển dịch cả đầu tư công và đầu tư tư nhân sang các ngành then chốt quan trọng đối với việc xanh hoá nền kinh tế toàn cầu) và đưa ra các ví dụ minh hoạ (về sự tạo thêm công ăn việc làm thông qua việc bù đắp những công việc đã mất bằng những công việc xanh trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh), báo cáo đã chứng minh rằng xanh hoá nền kinh tế không phải là một cản trở đối với tăng trưởng mà là một động cơ tăng trưởng mới. Báo cáo này cũng tìm cách thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách tạo điều kiện thuận lợi để tăng đầu tư vào quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh.
Một số lĩnh vực quan trọng được nghiên cứu bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, nước ngọt, thủy hải sản, nhiên liệu tái tạo, sản xuất, xử lý rác thải, xây dựng, giao thông, và du lịch. Cụ thể đối với lĩnh vực nhiên liệu sạch, báo cáo đã đề cập tới một số vai trò quan trọng đối với chiến lược tăng trưởng xanh như sau: Thứ nhất, phân bổ tối thiểu 1% tổng GDP toàn cầu để nâng cao hiệu quả nhiên liệu và mở rộng việc sử dụng nhiên liệu sạch sẽ tạo thêm việc làm. Việc làm trong lĩnh vực nhiên liệu sạch chiếm một tỷ trọng đáng kể với hơn 2,3 triệu ngư i trên toàn thế giới ước tính đang làm việc trực tiếp hoặc gián tiếp trong ngành năm 2006. Đa số ngư i lao động trong ngành này tập trung ở một nhóm nh các nước như Brazil, Trung Quốc, Đức, Nhật Bản và Mỹ.
Lĩnh vực này có tiềm năng rất lớn trong tăng trưởng cũng như các khoản đầu tư vào nâng cao hiệu quả nhiên liệu sạch, nhất là khi được định hướng bằng các chính sách hỗ trợ. Trong mô ph ng của báo cáo, gần một nửa trong tổng đầu tư tập trung vào việc nâng cao hiệu quả nhiên liệu và mở rộng việc sử dụng nhiêu liệu sạch, như vậy tính đến năm 2050 số lượng việc làm sẽ tăng lên 20% so với kinh doanh thông thư ng, đồng th i thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và giảm lượng khí thải. Thứ hai, tăng nguồn cung cấp nhiên liệu từ các nguồn tái tạo giúp tăng cư ng an ninh năng lượng ở các cấp độ toàn cầu, quốc gia và địa phương cũng như loại b tình trạng nghèo nàn nhiên liệu sạch. Hiện nay, ngoài những hậu quả về môi trư ng, hệ thống phân bổ nhiên liệu hiện tại cũng đang hết sức mất cân đối.
1,4 tỷ ngư i không được tiếp cận với điện năng và 2,7 tỷ ngư i phụ thuộc vào nhiên liệu truyền thống để nấu nướng. Trong tương lai, tăng trưởng nhu cầu sử dụng nhiên liệu được dự đoán sẽ chủ yếu rơi vào các nước đang phát triển trong bối cảnh giá nhiên liệu hóa thạch tăng và nguồn cung hạn chế. Vấn đề này làm gia tăng mối lo ngại nghiêm trọng về an ninh năng lượng, chủ yếu là liên quan đến sự ổn định và khả năng chi trả cho nguồn cung cấp năng lượng quốc gia. Rủi ro đối với an ninh năng lượng quốc gia cũng có thể tác động đến an ninh năng lượng ở cấp địa phương.
Hệ thống nhiên liệu chính dựa trên nhiên liệu hóa thạch như hiện nay là nguồn gốc của sự biến đổi khí hậu, trong đó ngành nhiên liêu thải ra hai phần ba lượng khí thải nhà kính. Chi phí để thích ứng với biến đổi 7 khí hậu ước tính lên đến 50-170 tỷ đô la Mỹ vào năm 2030, và các quốc gia đang phát triển phải gánh một nửa trong số đó. Trong đó có nhiều nước nhập khẩu ròng dầu cũng phải chịu tác động bởi giá nhiên liệu hoá thạch tăng cao và biến động. Ví dụ, việc tăng giá dầu kể từ năm 2002 đã gia tăng áp lực lên cán cân thanh toán của các nước đang phát triển.
Dầu chiếm 10-15% tổng lượng nhập khẩu của các nước châu Phi nhập khẩu dầu và chiếm hơn 30% doanh thu xuất khẩu trung bình của những nước này (UNCTAD 2006, ESMAP 2008) [122], [80]. Một số nước châu Phi, trong đó có Kenya và Senegal, dành hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu của họ để nhập khẩu nhiên liệu, trong khi Ấn Độ dành 45%. Đầu tư vào các nguồn nhiên liệu tái tạo có sẵn tại địa phương, nhiều khi rất dồi dào, có thể làm tăng cư ng đáng kể an ninh năng lượng - và mở rộng hơn là an ninh kinh tế và tài chính (GNESD 2010) [81]. Khi đó, an ninh năng lượng sau đó sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi khả năng tiếp cận các công nghệ năng lượng tái tạo, bao gồm khả năng chi trả cũng như khả năng thích ứng và triển khai các công nghệ đó.
Do đó, đa dạng hóa ma trận năng lượng mang lại cả một thách thức đáng kể lẫn cơ hội cho các nước nhập khẩu dầu. Thứ ba, nhiên liệu sạch tạo ra những cơ hội kinh tế đáng kể. Xanh hoá ngành nhiên liệu đòi h i chuyển đổi đầu tư từ các nguồn nhiên liệu giàu carbon sang nhiên liệu sạch cũng như cải thiện hiệu quả sử dụng nhiên liệu. Đầu tư vào các công nghệ nhiêu liệu đang được phát triển trên thị trư ng hiện nay khi chúng trở nên ngày một cạnh tranh hơn.
Từ năm 2002 đến giữa năm 2009, tổng đầu tư vào các nguồn nhiên liệu tăng trưởng trung bình hàng năm ở mức 33%.Kể cả trong th i kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu, khu vực này vẫn tiếp tục bùng nổ. Năm 2010, đầu tư mới vào phát triển nhiên liệu sạch ước tính đạt mức cao kỷ lục 180-200 tỷ đô la Mỹ, tăng từ 162 tỷ đô la Mỹ năm 2009 và 173 tỷ đô la Mỹ năm 2008. Tốc độ tăng trưởng đang dần được chi phối bởi các nước ngoài OECD. Tỷ trọng đầu tư của các nước này tăng từ 29% năm 2007 lên 40% năm 2008 trong tổng mức đầu tư vào nhiên liệu tái tạo toàn cầu, tập trung chủ yếu vào các nước Brazil, Trung Quốc và Ấn Độ.
Công nghệ tái tạo thậm chí còn cạnh tranh hơn nếutính đến các chi phí xã hội của công nghệ nhiên liệu hóa thạch như tác động của các chất ô nhiễm không khí khác nhau lên sức kh e con ngư i hiện tạivà trong tương lai cũng như các chi phí cần thiết để thích ứng với biến đổi khí hậu và axit hóa đại dương do khí thải CO2. Theo Dawn Stover (2011), nhiên liệu hay nhiên liệu sạch là từ những nguồn liên tục mà theo chuẩn mực của con ngư i là hữu hạn. Nguyên tắc cơ bản của việc sử nhiên liệu là tách một phần nhiên liệu từ các quy trình diễn biến liên tục trong môi trư ng và đưa vào trong các sử dụng kỹ thuật. Các quy trình này thư ng được thúc đẩy đặc biệt là từ các nguồn khai thác chế biến.
Nhiên liệu sạch thay thế các nguồn nhiên liệu truyền 8 thống trong nhiều lĩnh vực đặc biệt trong ngành giao thông vận tải, sử dụng nhiên liệu sạch giảm thải phát thải nhà kính, giảm thiểu ô nhiễm môi trư ng [74].