Đặt vấn đề Cây ăn quả có một vai trò và ý nghĩa rất to lớn trong đời sống kinh tế sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế hộ gia đình và sự phát triển của đất nước. Cây ăn quả cung cấp nguồn dinh dưỡng quý cho con người, nghành sản xuất cây ăn quả phát triển sẽ cung cấp nguyên liệu cho một số ngành khác như: Công nghiệp chế biến, công nghiệp dược phẩm, cây ăn quả còn tạo ra nguồn hàng hóa giá trị để xuất khẩu từ đó thu về ngoại tệ cho đất nước. Trồng cây ăn quả có tác dụng cải tạo môi trường cảnh quan sinh thái, làm tăng độ che phủ cho đất, hạn ché xói mòn đất, phủ xanh đất trống đồi núi trọc ở nhiều vùng sinh thái, nhất là vùng đồi núi trung du miền núi phía bắc, một số loại cây ăn quả còn có tác dụng làm thuốc, làm cây cảnh. Hiện nay việc trồng cây ăn quả ở nhiều vùng đã giúp cải tiến và nâng cao đời sống cho người dân, hiệu quả kinh tế trồng cây ăn quả trên đơn vị diện tích cao hơn so với cây trồng khác.
Ở nước ta, trong thời qua đã có nhiều giống cây ăn quả cho năng suất và chất lượng, các giống có thể được tuyển chọn từ cây đầu dòng ở địa phương hay từ nguồn nhập nội. Ở Cao Bằng những năm gần đây nghành sản xuất cây ăn quả có vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp của tỉnh. Cùng với chủ trương chung của tỉnh về phát triển sản xuất cây ăn quả theo phương thức sản xuất hàng hóa thì việc trồng và thâm canh một số loại cây ăn quả có giá trị kinh tế vừa cho sản lượng và chất lượng cao sẽ là cây trồng tạo ra hàng hóa tốt mang lại hiệu quả cao cho người làm vườn. 2 Vì vậy, việc đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số loại cây ăn quả, áp dụng các biện pháp kĩ thuật vào sản xuất, mở rộng diện tích trồng một số giống cây ăn quả có năng suất cao và chất lượng phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu tình hình sinh trưởng và phát triển của giống bưởi Diễn và giống ổi Đông tại Vườn ăn quả Bác Hồ, Khu Di Tích Pác Bó, xã Trường Hà - Hà Quảng - Cao Bằng”.
Mục đích và yêu cầu * Mục đích: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của một số giống cây ăn quả, nhằm đánh giá khả năng thích ứng của chúng trên địa bàn nghiên cứu, nhằm khôi phục và cải tạo vườn cây ăn quả Bác Hồ tại Khu Di Tích Pác Bó để tăng thêm vẻ đẹp và điều hòa không khí khu di tích. * Yêu cầu : - Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của xã Trường Hà có liên quan đến sản xuất cây ăn quả và sản xuất nông nghiệp - Theo dõi tình hình sinh trưởng của các đợt lộc - Theo dõi tình hình đậu quả của các công thức thí nghiệm - Theo dõi tình hình sâu bệnh hại xuất hiện trên thí nghiệm. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa ttrong học tập và nghiên cứu khoa học Giúp cho sinh viên hệ thống hóa kiến thức, áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất.
Nâng cao trình độ, tiếp cận với tiến bộ khoa học, mở rộng hiểu biết trong nghiên cứu khoa học. Tạo cho sinh viên tác phong làm việc, nghiên cứu độc lập phục vụ trong công tác sau khi ra trường. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Từ kết quả đánh giá khả năng thích nghi của một số loại cây ăn quả tại vùng sinh thái tỉnh Cao Bằng, nếu những loại cây ăn quả này sinh trưởng và phát triển tốt sẽ đóng góp thêm vào cơ cấu cây trồng của địa phương. 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài Tổng hợp các kết quả nghiên cứu tiềm năng cây ăn quả Việt Nam, tác giả Bùi Huy Đáp 1960 [3] và nhiều tác giả khác cùng có chung nhận định : Khu vực miền núi phía Bắc bao gồm các tỉnh : Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lạng Sơn…là vùng có tiềm năng phát triển cây ăn quả nói chung và các loại cam quýt nói riêng. Đặc biệt vùng có ưu thế về điều kiện khí hậu, khả năng mở rộng diện tích và có tập đoàn giống phong phú, đa dạng. Khí hậu vùng này ngoài thích hợp với sinh trưởng các loại cây ăn quả ôn đới còn có ưu thế nổi bật hơn các vùng khác trong nước là có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt độ ngày đêm và giữa các tháng chênh lệch lớn làm cho các loại quả có múi đẹp, chất lượng tốt thể hiện đặc trưng của giống, vì vậy các loại quả có múi ở phía Bắc bao giờ cũng đẹp hơn ở phía Nam, quả ít hạt, thịt mềm, mọng nước và ít xơ bã. Ngoài những ưu thế nổi bật trên sản xuất các loại cây ăn quả ở vùng này còn gặp một số hạn chế cơ bản như: - Địa hình của nước ta phức tạp, độ dốc cao (đất vùng cao chiếm 38% quĩ đất nông nghiệp toàn quốc, có 58,2% diện tích đồi núi có độ dốc > 200), lượng mưa lớn gây xói mòn, thoái hoá đất dẫn đến tuổi thọ của cây ăn quả thấp, nhiệm kỳ kinh tế ngắn.
- Chưa có quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành cây ăn quả, chưa điều tra khảo sát toàn diện trong cả nước và từng vùng sinh thái để định hình và phát triển các loại cây ăn quả. - Giống cây ăn quả của nước ta nay hầu hết là giống địa phương, đã thoái hoá, quy trình canh tác không hợp lý, năng suất thấp, chất lượng kém, 5 sâu bệnh nhiều, sản xuất phân tán, giá thành cao, chưa tạo được khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn, không phù hợp với chế biến công nghiệp và xuất khẩu. - Đầu tư cho nghiên cứu khoa học (chọn giống, nhân giống…) và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ trong trồng trọt còn quá ít. Hoạt động khuyến nông còn yếu; hệ thống quản lý và cung cấp giống cây ăn quả cho nhân dân còn chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và chưa được quan tâm đầy đủ.
- Trình độ công nghệ và thiết bị chế biến, bảo quản lạc hậu, cơ sở hạ tầng còn yếu và thiếu, vận chuyển và lưu thông trong nước còn chưa kịp thời, gây lãng phí lớn. Sản phẩm, bao bì còn đơn điệu, giá thành cao, chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu. - Chưa có hệ thống chính sách hợp lý, đồng bộ, chưa lồng ghép được các chương trình để khuyến khích đầu tư, phát triển và tận dụng các nguồn vốn trong và ngoài nước. - Ý thức chấp hành các qui định về kiểm soát giống cây ăn quả, về bảo vệ thực vật của nhân dân chưa cao nên trong sản xuất còn nhiều giống xấu, giống bị sâu bệnh, dẫn đến năng suất, chất lượng quả còn thấp.
- Trình độ dân trí nước ta còn thấp, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa. Dân ta còn nghèo, người nghèo chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn, miền núi, nơi có điều kiện đất đai rộng để phát triển và mở rộng diện tích cây ăn quả. Nhưng do thiếu thốn về cơ sở vật chất nên khả năng đầu tư cho cây ăn quả còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn. Hướng trọng tâm chủ yếu là nhập nội các giống mới có đặc tính tốt thử nghiệm với các vùng sinh thái và nghiên cứu thử nghiệm cùng với các gốc ghép thích hợp.
Việc trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đưa giống bưởi Diễn, giống ổi Đông Dư, giống xoài và cây vú sữa vào trồng nhằm khôi phục 6 vườn cây ăn quả Bác Hồ tại Khu Di Tích Pác Bó là hướng đi hết sức đúng đắn và có cơ sở khoa học cao, vì những giống cây ăn quả đưa vào trồng là sản phẩm hàng hóa có thương hiệu cao được thị trường ưa chuộng, và trong thời gian sắp tới nó sẽ góp phần vào sản xuất và phát triển cây ăn quả của vùng. Giới thiệu chung về cây ăn quả 2. Phân loại cây ăn quả Ở nước ta có trên 39 họ, 124 loài cây ăn quả; trong đó có gần 40 loài thường gặp và có giá trị kinh tế trong đời sống hàng ngày, bao gồm: - Cây ăn quả nhiệt đới: Dứa, Chuối, Xoài, Mít, Đủ đủ, Đào lộn hột, Na, Dừa, Sầu riêng, Măng Cụt, Mãng Cầu Xiêm, Me, Hồng Xiêm, Vú Sữa, Lê- ki- ma, ổi, Gioi, Khế, Dâu Da. - Cây ăn quả á nhiệt đới: Cam, Quýt, Chanh, Bưởi, Hồng, Táo, Lựu, Bơ, Vả, Vải, Nhãn, Sơn Trà Nhật Bản.
- Cây ôn đới: Táo Tây, Lê, Đào, Mận, Nho, Dâu tây, óc chó, Anh đào v. Dưới đây là một số lớn họ thường gặp theo hệ thống phân loại thực vật * Họ phụ Cam, Quýt (Aurantioideac (Họ Rutaceae) Cây bưởi (Citrus grandis osbeck - C.) Cây Cam chua (Cam đắng) (C. sinensis osbeck) Cam Sành (C. nobilis Lour) Cây Quýt (C.nobilis) Cây Cam Đường (C.
Reticulata Tenore) Chanh Yên (C. Bajoura Bonavia) Cây Chanh (C. medical…) Phật Thủ (C. digitata) Chanh Cốm (C.acida) 7 Chanh Giấy (C.
Var, limonum Hook) Cây quất (C.fortunella) * Họ Dứa (Bromeliaceac) Cây dứa Ananas comsus (L.) * Họ phụ mận (prunoideae) (Họ rosaceae) Cây Đào (Persica vulgaris Mill) Cây mận Prunus triflora Roxb ≈ P. Cây Mơ (Armeniaca vulgaris LamK) * Họ phụ táo (Pomoideae) (Họ Rosaceae) Cây Lê (Pirus communis - P. Pyrifolia Nakai) Táo Tây (Malus domestica = M. Pumilia Mill) Sơn Trà Nhật Bản- Nhót tây (Eriobotrya japonica Lindl) * Họ Sim (Myrtaceae) Cây Gioi (Eugenia javanica Lam.) Cây Ổi (Psidium Guajava L.) Cây Sim (Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hassk) * Họ Lựu (Punicaceae) Cây Lựu (Punica granatum L.) * Họ Thị (Ebenaceae) Cây Hồng (Diospyros kali L.f) Cây Cậy (Diospyros lotus L.) Cây Thị (Diospyros decandra Lour.
* Họ Chay (Sapotaceae) Cây Hồng Xiêm (Achras Zapota L.) Cây Vú Sữa (Chrysophyllium canito L.) * Họ Chua Me đất (Oxalidaceae) Cây Khế chua (Averrhoa carambola L.) 8 Cây Khế ngọt (Averrhoa Bilimbi L.) * Họ Măng cụt (Guttiferae- Clusiaceae Cây Măng cụt (Gareinia Mangoslanna L.) Cây Bứa (Garcinia Louroiri Pierre) Cây Dọc (Garcinia tonkinensis Vesque) * Họ Dâu Tằm (Moraceae) Cây Mít (Artocarpus integrifolia L.) Cây Sung (Ficus glomerata Roseb) Cây Vả (Ficus glomerata Roseb) Cây Ngái (Ficus hispida) * Họ Na (Anonaceae) Cây Na (Anona Squamota L.) Cây Mãng Cầu Xiêm (Anona muricata L.) Cây Bình Bát = cây lê (Anona reticulata L.) * Họ Bồ Hòn (Sapindaceae) Cây Nhãn (Euphoria Longa (Lour) Steud. (Nephelium longana) Cây Vải (Litchi sinensis Sonn. (Nêphlium litchi Cambes) Chôm chôm (Nephelium mutabile = Kapoulasan) * Họ Gạo (Bombaceae) Cây Gạo (Gossampinus malabarica Merr- Bombax malabaricum D.