Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây ăn quả giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, góp phần tăng thu nhập cho kinh tế hộ gia đình, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, dược phẩm và tạo nguồn nông sản hàng hóa giá trị. Bên cạnh giá trị kinh tế, việc trồng cây ăn quả còn có tác dụng bảo vệ môi trường, cải tạo cảnh quan sinh thái, nâng cao độ che phủ đất, hạn chế xói mòn và phủ xanh đất trống đồi núi trọc tại các vùng sinh thái trung du, miền núi phía Bắc.

Tại tỉnh Cao Bằng, phát triển cây ăn quả theo phương thức sản xuất hàng hóa có năng suất và chất lượng cao là một trong những chủ trương trọng tâm nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Tuy nhiên, tại huyện vùng cao biên giới Hà Quảng – một trong những huyện nghèo của cả nước với địa hình phức tạp, diện tích núi đá vôi chiếm tới 2/3 tổng diện tích tự nhiên – diện tích trồng cây ăn quả còn rất khiêm tốn (chỉ đạt 119 ha). Trong khi đó, toàn huyện có 5.589,49 ha đất chưa sử dụng, với khoảng 500 ha có khả năng khai thác để trồng cây ăn quả.

Nhằm đánh giá khả năng thích ứng của các giống cây ăn quả chất lượng cao đưa từ vùng khác về trồng, phục vụ công tác khôi phục và cải tạo cảnh quan Vườn cây ăn quả Bác Hồ tại Khu di tích lịch sử quốc gia Pác Bó, tác giả Vi Văn Huấn đã thực hiện đề tài nghiên cứu thực nghiệm này.

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của giống bưởi Diễn và giống ổi Đông Dư nhằm đánh giá mức độ thích ứng của chúng trên địa bàn nghiên cứu, phục vụ khôi phục, cải tạo Vườn cây ăn quả Bác Hồ tại Khu di tích Pác Bó, góp phần làm tăng vẻ đẹp cảnh quan và điều hòa không khí khu di tích.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ cụ thể):

  1. Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của xã Trường Hà và huyện Hà Quảng có liên quan đến sản xuất cây ăn quả và sản xuất nông nghiệp.
  2. Theo dõi tình hình sinh trưởng của các đợt lộc (trọng tâm là lộc hè).
  3. Theo dõi tình hình đậu quả và rụng quả của các công thức thí nghiệm.
  4. Theo dõi tình hình, thành phần và mức độ phổ biến của các loài sâu bệnh hại xuất hiện trên vườn thí nghiệm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống bưởi Diễn và giống ổi Đông Dư do Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đưa lên trồng từ tháng 8 năm 2013.
  • Địa điểm nghiên cứu: Vườn cây ăn quả Bác Hồ, Khu di tích Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 06/2014 đến tháng 09/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở khoa học và đặc tính sinh học của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên tổng quan lý luận về tiềm năng phát triển cây ăn quả vùng miền núi phía Bắc của Bùi Huy Đáp (1960), Trần Thế Tục (1994) và Vũ Công Hậu (1995). Khu vực miền núi phía Bắc có ưu thế lớn về mùa đông lạnh, biên độ nhiệt độ ngày đêm và giữa các tháng chênh lệch lớn, giúp các loại quả có múi đạt mẫu mã đẹp, tích lũy đường tốt, thịt mềm, mọng nước và ít hạt.

Theo phân loại thực vật học:

  • Bưởi Diễn (Citrus grandis Osbeck): Thuộc họ Cam quýt (Rutaceae), phân họ Aurantioideae. Là biến dị của bưởi Đoan Hùng, quả tròn, vỏ vàng cam khi chín, khối lượng trung bình 0,8 – 1,0 kg/quả, tôm giòn, vị ngọt đậm, thu hoạch trước Tết Nguyên đán khoảng 15 ngày. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng là 23 – 29°C (ngừng sinh trưởng khi <12,5°C hoặc >40°C), ẩm độ không khí thích hợp 75 – 80%. Bộ rễ bưởi thuộc dạng rễ nấm cộng sinh, ưa ẩm nhưng không chịu được ngập úng.
  • Ổi Đông Dư (Psidium guajava L.): Thuộc họ Sim (Myrtaceae). Có nguồn gốc từ làng Đông Dư (Gia Lâm, Hà Nội), cây sinh trưởng khỏe, phân cành sớm, cho quả quanh năm. Quả nhỏ, tròn căng, cùi dày, giòn và thơm ngọt. Cây không chịu được nhiệt độ rét buốt dưới -2°C, nhiệt độ thích hợp trên 18 – 20°C. Bộ rễ ổi có tính thích ứng cao: khi hạn rễ đâm sâu 3 – 4 m, khi mưa ngập rễ mọc ngược lên lớp đất mặt, chịu được ngập tạm thời vài ngày; thích hợp với khoảng pH đất rộng từ 4,5 đến 8,2.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu cây ăn quả chuẩn của Viện Nghiên cứu Rau quả Việt Nam.

1. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các tài liệu, số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất và tình hình sản xuất nông nghiệp từ UBND huyện Hà Quảng, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Thống kê huyện và Trạm Khí tượng Thủy văn tỉnh Cao Bằng.

2. Phương pháp bố trí thí nghiệm thực địa: Thí nghiệm theo dõi được bố trí theo 2 công thức:

  • Công thức 1: Giống bưởi Diễn (quy mô 9 cây).
  • Công thức 2: Giống ổi Đông Dư (quy mô 10 cây).
  • Tổng số cây theo dõi là 19 cây, được áp dụng quy trình chăm sóc kỹ thuật đồng bộ.

3. Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:

  • Chỉ tiêu hình thái cây (đo định kỳ 1 tháng/lần):
    • Chiều cao cây (cm): Đo từ điểm mốc cố định sát mặt đất đến đỉnh tán cao nhất bằng sào và thước mét.
    • Đường kính tán cây (cm): Đo 2 chiều vuông góc (Đông - Tây, Nam - Bắc) bằng thước dây, tính trung bình.
    • Đường kính gốc (cm): Đo tại vị trí cố định cách mặt đất 10 cm bằng thước kẹp panme.
  • Đặc điểm phân cành và lá:
    • Góc phân cành: Phân loại cành hướng đứng (góc < 45°) hoặc cành hướng ngang (góc > 45°).
    • Khả năng phân cành: Đếm số cành cấp I, đo chiều cao phân cành cấp I từ mặt đất; đếm số cành cấp II và chiều cao phân cành cấp II.
    • Kích thước lá: Đo ngẫu nhiên 30 lá thành thục ổn định/công thức (chiều dài từ cuống đến chóp lá, chiều rộng tại vị trí lớn nhất).
  • Chỉ tiêu sinh trưởng lộc hè:
    • Trên mỗi cây chọn 4 cành đại diện đồng đều.
    • Xác định thời điểm nhú lộc (khi có 10% số cây nhú lộc) và thời điểm lộc thành thục (khi 80% số lộc thành thục).
    • Động thái tăng trưởng chiều dài lộc (cm) và số lá/lộc: Đo và đếm định kỳ 7 ngày/lần trên 2 lộc đại diện/cành theo dõi.
    • Kích thước cành hè thành thục: Đo chiều dài, đường kính gốc cành, đếm số mắt lá và tổng số lá/cành khi lộc thành thục.
  • Chỉ tiêu rụng quả và đậu quả (theo dõi trên giống ổi Đông Dư):
    • Đếm tổng số quả hình thành trên các cành theo dõi, sau đó mỗi tháng đếm 1 lần để xác định số lượng quả rụng.
    • Tính tỷ lệ đậu quả theo công thức: $$\text{Tỷ lệ đậu quả (%)} = \frac{\text{Tổng số quả đậu}}{\text{Tổng số quả hình thành}} \times 100$$
  • Phương pháp giám sát sâu bệnh hại:
    • Quan sát trực tiếp trên toàn bộ vườn thí nghiệm, xác định thời điểm xuất hiện, mức độ hại theo thang phân cấp tiêu chuẩn:
    • Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella Stainton): Đánh giá 5 cấp (Cấp 0: không hại; Cấp 1: <1/5 số lộc bị hại; Cấp 2: 1/5 – 1/2 số lộc bị hại; Cấp 3: 1/2 – 3/4 số lộc bị hại; Cấp 4: >3/4 số lộc bị hại).
    • Nhện đỏ: Đánh giá 5 cấp theo tỷ lệ lá bị hại (Cấp 0 đến Cấp 4: từ 0% đến 100%).
    • Sâu đục thân: Đánh giá theo số vết đục/lỗ đục trên thân cành.
    • Bệnh loét (Xanthomonas campestris pv. citri): Đánh giá 5 cấp theo tỷ lệ diện tích lá bị bệnh (Cấp 0 đến Cấp 4).
    • Côn trùng chích hút và sâu bướm phượng: Đánh giá 3 cấp theo tần xuất bắt gặp (Cấp 1: <10%; Cấp 2: 10 – 20%; Cấp 3: >20%).

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần I: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc phát triển cây ăn quả tại các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Cao Bằng nói riêng. Nêu bật ý nghĩa khoa học của đề tài trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng, đồng thời xác định ý nghĩa thực tiễn: kết quả đánh giá khả năng sinh trưởng và thích ứng của giống bưởi Diễn và ổi Đông Dư sẽ là cơ sở khoa học để bổ sung vào cơ cấu cây trồng của huyện Hà Quảng, phục vụ tôn tạo cảnh quan khu di tích lịch sử Pác Bó.

Phần II: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về cây ăn quả:

  • Cơ sở khoa học vùng trồng: Phân tích tiềm năng khí hậu miền núi phía Bắc và đánh giá tổng thể tài nguyên cây ăn quả Việt Nam với 39 họ, 124 loài và hơn 350 giống.
  • Khái quát 7 vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam: Phân tích đặc điểm, lợi thế và hạn chế của từng vùng (Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Trung du miền núi Bắc Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ).
  • Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả trên thế giới: Tổng sản lượng quả thế giới năm 2006 đạt trên 526,72 triệu tấn. Trung Quốc dẫn đầu thế giới chiếm 17,74% tổng sản lượng. Nhóm quả có múi chiếm 13,10% sản lượng toàn cầu. Nêu các số liệu xuất nhập khẩu quả chủ lực (chuối, táo, cam quýt, nho) và mức tiêu thụ quả bình quân đầu người của một số quốc gia.
  • Tình hình sản xuất cây ăn quả tại Việt Nam: Năm 2000 cả nước có 541.000 ha cây ăn quả, sản lượng trên 5 triệu tấn, năng suất bình quân 10 tấn/ha. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỷ trọng lớn nhất (62,9% diện tích và 66,1% sản lượng). Nêu rõ các hạn chế nội tại: phần lớn là vườn tạp phân tán (0,5 – 2,0 ha/hộ), công nghệ sau thu hoạch lạc hậu làm tỷ lệ tổn thất lên tới 20 – 25%, tỷ lệ chế biến chỉ đạt 5 – 7%.

Phần III: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết địa điểm nghiên cứu tại Khu di tích Pác Bó, thời gian theo dõi từ tháng 6/2014 đến tháng 9/2014. Mô tả cụ thể cách thức bố trí 2 công thức thí nghiệm (9 cây bưởi Diễn, 10 cây ổi Đông Dư), các quy chuẩn kỹ thuật đo đếm chỉ tiêu hình thái thân tán lá, động thái lộc hè, tỷ lệ đậu/rụng quả và hệ thống thang cấp đánh giá sâu bệnh hại theo hướng dẫn của Viện Nghiên cứu Rau quả.

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung trình bày và phân tích các kết quả điều tra, đo đạc thực tế:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hà Quảng: Diện tích tự nhiên toàn huyện là 45.356,74 ha, chia thành 2 vùng rõ rệt (vùng thấp 7 xã/thị trấn và vùng cao Lục khu 12 xã đặc biệt khó khăn thiếu nước). Diễn biến nhiệt độ trung bình năm tại địa bàn dao động 20 – 22°C (thấp nhất 8,0°C vào tháng 1, cao nhất 35,9°C vào tháng 5), lượng mưa trung bình năm đạt 1.605,3 mm (tập trung 80% vào tháng 6, 7, 8).
  • Hiện trạng quỹ đất và sản xuất cây ăn quả: Đất lâm nghiệp chiếm 74,3% diện tích tự nhiên, diện tích trồng cây ăn quả chỉ chiếm 119 ha. Phân tích chi tiết số liệu diện tích và sản lượng các loại cây ăn quả chính (hồng, cam quýt, nhãn vải) giai đoạn 2006 – 2008.
  • Tình hình sinh trưởng của 2 giống thí nghiệm: Đánh giá chi tiết các chỉ tiêu hình thái thân cành, kích thước lá, động thái tăng trưởng chiều dài và số lá của lộc hè; tình hình rụng quả mùa hè ở giống ổi Đông Dư; thành phần và mức độ gây hại của sâu vẽ bùa, nhện đỏ, sâu đục thân, sâu bướm phượng và bệnh loét do vi khuẩn.

Phần V: Kết luận và đề nghị

Đưa ra các kết luận tổng hợp về khả năng sinh trưởng, phát triển cành lá của giống bưởi Diễn và ổi Đông Dư sau 1 năm trồng tại Pác Bó; đánh giá mức độ thích ứng với khí hậu địa phương và kiến nghị các biện pháp kỹ thuật canh tác, tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh để hoàn thiện quy trình chăm sóc vườn cây.


Kết quả và đóng góp

1. Kết quả chính và số liệu thực nghiệm trong văn bản

Điều kiện khí hậu tại điểm nghiên cứu (năm 2014 và trung bình nhiều năm):

  • Nhiệt độ trung bình năm: 20 – 22°C. Nhiệt độ trung bình tháng 1 năm 2014 là 12,1°C (nhiệt độ tối thấp 8,0°C); nhiệt độ trung bình tháng 8 năm 2014 là 25,5°C (nhiệt độ tối cao 35,9°C vào tháng 5/2014).
  • Lượng mưa và ẩm độ: Lượng mưa trung bình đạt 1.605,3 mm/năm, trong đó 80% tập trung vào các tháng 6, 7, 8 (tháng 7/2014 mưa cao nhất đạt 361,9 mm; tháng 6 đạt 290,5 mm). Ngược lại, tháng 1 và 2 năm 2014 lượng mưa rất thấp (lần lượt là 6,1 mm và 13,0 mm). Độ ẩm trung bình dao động từ 82% đến 92%.

Hiện trạng sản xuất cây ăn quả tại huyện Hà Quảng (giai đoạn 2006 – 2008): Diện tích trồng cây ăn quả toàn huyện duy trì ở mức 119 ha, không tăng qua các năm. Số liệu diện tích và sản lượng chi tiết được thể hiện qua bảng sau:

STT Loại cây ăn quả Năm 2006 (Diện tích - ha) Năm 2006 (Sản lượng - tấn) Năm 2007 (Diện tích - ha) Năm 2007 (Sản lượng - tấn) Năm 2008 (Diện tích - ha) Năm 2008 (Sản lượng - tấn)
1 Cây Hồng 12,0 75,6 12,5 85,0 12,5 75,0
2 Cam, quýt 14,0 43,0 14,0 43,0 14,0 43,0
3 Nhãn, vải 10,0 5,0 10,0 92,0 10,0 74,0
4 Cây ăn quả khác 82,0 243,0 81,5 244,5 81,5 245,0
Tổng Toàn huyện 118,0 366,6 118,0 464,5 118,0 437,0

Ghi chú: Riêng cây hồng có đặc điểm phân bố tập trung chủ yếu tại xã Trường Hà, các xã khác trong huyện hầu như không có.

Khả năng sinh trưởng và phát triển của 2 giống thí nghiệm:

  • Cả 2 giống bưởi Diễn và ổi Đông Dư trồng từ tháng 8/2013 đều sinh trưởng cành tán tốt, tạo được bộ khung tán vững chắc và thích nghi được với điều kiện đất đai, khí hậu tại Vườn cây ăn quả Bác Hồ.
  • Đợt lộc hè phát triển mạnh mẽ, cành lộc thành thục có kích thước và số lá đảm bảo cho việc quang hợp và tích lũy dinh dưỡng.
  • Ở giống ổi Đông Dư, cây đã bắt đầu ra hoa và đậu quả ngay trong năm đầu theo dõi. Tuy nhiên, trong tháng 6 và tháng 7, do nhiệt độ không khí tăng cao (33 – 34°C) kết hợp với các đợt mưa rào lớn kéo dài đã dẫn đến hiện tượng rụng quả non sinh lý và rụng do sâu bệnh.
  • Tình hình dịch hại: Ghi nhận sự xuất hiện của các đối tượng gây hại chính gồm sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella), nhện đỏ gây hại trên lá non, sâu đục thân đục rải rác trên thân chính/cành cấp I, sâu bướm phượng ăn lá non và bệnh loét do vi khuẩn (Xanthomonas campestris pv. citri).

2. Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Cần có kế hoạch khai thác khoảng 500 ha đất chưa sử dụng có khả năng trồng cây ăn quả tại huyện Hà Quảng để mở rộng diện tích sản xuất hàng hóa.
  • Cần áp dụng quy trình kỹ thuật tỉa cành tạo tán định kỳ, bón phân cân đối và có biện pháp tưới bổ sung trong mùa khô (tháng 1 – 2), đồng thời có rãnh thoát nước chống úng trong mùa mưa hè (tháng 6 – 7) để giảm thiểu hiện tượng rụng quả non ở cây ổi.
  • Cần chủ động theo dõi các đợt nhú lộc non để phun thuốc phòng trừ sâu vẽ bùa và bệnh loét vi khuẩn kịp thời.

3. Đóng góp của khóa luận

  • Đề tài là công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên cung cấp các dẫn liệu khoa học về các chỉ tiêu sinh trưởng hình thái, động thái ra lộc hè và thành phần sâu bệnh hại của 2 giống cây ăn quả đặc sản (bưởi Diễn và ổi Đông Dư) di thực về trồng tại vùng tiểu khí hậu xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
  • Chứng minh tính khả thi sinh học của việc đưa giống bưởi Diễn và ổi Đông Dư vào phục vụ khôi phục, cải tạo cảnh quan Vườn cây ăn quả Bác Hồ tại Khu di tích quốc gia Pác Bó.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Thời gian theo dõi thực nghiệm ngoài đồng ruộng tương đối ngắn, chỉ kéo dài trong 4 tháng (từ tháng 06/2014 đến tháng 09/2014), do đó nghiên cứu chỉ mới tập trung đánh giá được đợt lộc hè và tình hình rụng quả mùa hè, chưa theo dõi được trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng cả năm (lộc xuân, lộc thu, lộc đông).
  • Dung lượng mẫu thí nghiệm còn hạn chế (tổng số 19 cây gồm 9 cây bưởi Diễn và 10 cây ổi Đông Dư) trên vườn cây mới trồng được 1 năm tuổi (thời kỳ kiến thiết cơ bản). Cây bưởi Diễn chưa bước vào thời kỳ kinh doanh nên chưa có số liệu đánh giá về năng suất thực thu, chất lượng thịt quả và hiệu quả kinh tế thương phẩm.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, khả năng ra lộc, ra hoa, đậu quả và năng suất qua các năm tiếp theo khi vườn cây bước vào giai đoạn cho thu hoạch ổn định.
  • Khảo nghiệm mở rộng các biện pháp kỹ thuật canh tác chuyên sâu (thử nghiệm các công thức phân bón, chất điều hòa sinh trưởng hạn chế rụng quả non trên giống ổi, kỹ thuật bao quả) phù hợp với điều kiện đất đai đồi núi Cao Bằng.
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng nhân rộng mô hình trồng bưởi Diễn và ổi Đông Dư ra các hộ nông dân tại các xã vùng thấp của huyện Hà Quảng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Nông học, Trồng trọt, Cây ăn quả, Khuyến nông và Lâm nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng nông lâm nghiệp; đồng thời là nguồn tư liệu thực địa cho cán bộ kỹ thuật tại Phòng Nông nghiệp & PTNT, Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Hà Quảng và Ban Quản lý Khu di tích Pác Bó.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
    1. Phương pháp nghiên cứu: Quy trình phương pháp đo đạc chi tiết các chỉ tiêu hình thái thân, tán, cành, lá và các thang phân cấp đánh giá sâu bệnh hại cây ăn quả có múi theo quy chuẩn của Viện Nghiên cứu Rau quả.
    2. Dữ liệu thực địa địa phương: Bộ số liệu tổng hợp chi tiết về khí tượng thủy văn (nhiệt độ, lượng mưa, ẩm độ nhiều năm và năm 2014), cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và thực trạng sản xuất cây ăn quả huyện Hà Quảng giai đoạn 2006 – 2008.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tiến hành nghiên cứu trên những giống cây ăn quả nào và số lượng bao nhiêu?
Khóa luận nghiên cứu trên 2 giống cây ăn quả gồm giống bưởi Diễn (9 cây) và giống ổi Đông Dư (10 cây), tổng quy mô thí nghiệm là 19 cây, được Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đưa lên trồng từ tháng 8 năm 2013 tại Vườn cây ăn quả Bác Hồ.

2. Đề tài được triển khai trong thời gian nào và tại địa điểm cụ thể nào?
Đề tài thực hiện theo dõi thực địa từ tháng 06/2014 đến tháng 09/2014 tại Vườn cây ăn quả Bác Hồ, Khu Di tích lịch sử Pác Bó, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

3. Theo số liệu thống kê trong khóa luận, tiềm năng mở rộng diện tích trồng cây ăn quả của huyện Hà Quảng như thế nào?
Toàn huyện Hà Quảng có tổng diện tích tự nhiên 45.356,74 ha, trong đó đất trồng cây ăn quả hiện có chỉ chiếm 119 ha. Tuy nhiên, huyện còn 5.589,49 ha đất chưa sử dụng (chiếm 12,5% tổng diện tích), trong đó có khoảng 500 ha đất có đủ điều kiện thuận lợi để khai thác mở rộng diện tích trồng cây ăn quả.

4. Những loài sâu bệnh hại chính nào đã được ghi nhận xuất hiện trên vườn cây thí nghiệm?
Văn bản ghi nhận các loài sâu bệnh hại chính gồm: sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella Stainton), nhện đỏ hại lá non, sâu đục thân, sâu bướm phượng hại chồi lá non và bệnh loét do vi khuẩn (Xanthomonas campestris pv. citri).

5. Điều kiện thời tiết mùa hè ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của quả ổi Đông Dư tại Pác Bó?
Vào tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ không khí tại Hà Quảng lên cao (33°C – 34°C) kết hợp với lượng mưa lớn kéo dài (tháng 6 đạt 290,5 mm; tháng 7 đạt 361,9 mm) là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rụng nhiều quả non và gia tăng sự phát sinh của sâu bệnh hại trên cây ổi Đông Dư.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vi Văn Huấn đã hoàn thành việc điều tra điều kiện sinh thái, hiện trạng sản xuất cây ăn quả tại huyện Hà Quảng và bước đầu đánh giá động thái sinh trưởng của giống bưởi Diễn và ổi Đông Dư tại Khu di tích Pác Bó. Kết quả theo dõi thực nghiệm cho thấy cả hai giống cây đều sinh trưởng cành lá thuận lợi, phát triển lộc hè tốt và thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai tại xã Trường Hà sau 1 năm trồng. Công trình là cơ sở thực tiễn có giá trị phục vụ công tác chăm sóc, tôn tạo cảnh quan Vườn quả Bác Hồ và đóng góp dẫn liệu khoa học cho việc khai thác quỹ đất chưa sử dụng để phát triển cây ăn quả tại địa phương.