Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc của hoa lan Theo các tác giả Trần Hợp (1990) [4], Nguyễn Tiến Bân (1997) [8], Phạm Hoàng Hộ (2000) [9], cây lan Orchida thuộc họ phong lan Orchidaceae, bộ lan Orchidales, lớp một lá mầm Monoctyledoneae. Cây lan được biết đến đầu tiên ở Phương Đông. Hoa lan được biết đến vào khoảng 2500 năm về trước (Thời đại của Đức Khổng Tử, 551- 479 trước công nguyên).
Ở Phương Đông, lan được chú ý đến vì vẻ đẹp duyên dáng của lá, hương thơm tuyệt vời của hoa. Khổng Tử đề cao lan là Vua của những loài cỏ cây có hương thơm. Hoa lan thường mọc ở các vùng nhiệt đới, đã được các thuỷ thủ, các lái buôn, nhà truyền giáo… mang về nên người châu Âu biết đến rất muộn, lan được chú ý trước hết để làm thuốc chữa bệnh. Ở đây người ta đã tiến hành nghiên cứu rất công phu tỉ mỉ về lan.
Có thể nói Theophara stus là cha đẻ ngành học về lan và ông cũng là người đầu tiên dùng từ Orchid để chỉ một loài lan có củ tròn. Sau đó Robut Bron (1773 - 1858) là người đầu tiên đã phân biệt rõ ràng giữa họ lan và các họ khác. Người đặt nền tảng hiện đại cho môn học về lan là John Lindley (1799 - 1865). Năm 1836 ông công bố, sắp xếp các tông họ lan (A tabuler view of the tribes of orchidaler).
Tên của họ lan do ông đưa ra được dùng cho đến ngày nay [10]. Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan thời kỳ đầu không rõ rệt, có lẽ người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - Nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis”, gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình đến nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius và Sarcopodium. n 5 mà đã được Bentham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera planterum” (1862 - 1883) [9]. Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam mới có những công trình nghiên cứu được công bố đáng kể là F.
Gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “Thực vật Đông Dương chí” do H. Lecomte chủ biên, xuất bản năm 1932 - 1934 [15]. Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ (1972), đã mô tả kèm hình vẽ 289 loài lan gặp ở Nam Việt Nam trong bộ “Cây cỏ Việt Nam” (quyển II ). Sau năm 1975 các nhà khảo cứu Việt Nam, Liên Xô, Tiệp Khắc bắt đầu tìm kiếm và nghiên cứu về những giống lan tại Việt Nam.
Năm 1992, tác giả Gunnar Seidenfaden người Đan Mạch đã phát hành cuốn “Hoa Lan tại Đông dương” gồm 200 giống và 2000 loài, trong đó có khoảng 136 giống và 720 loài của Việt Nam. Đến năm 1993, tác giả Phạm Hoàng Hộ [9] cho rằng, ở Việt Nam có tới 755 loài lan. Gần đây nhất tác giả Leonid Averyanov (người Nga) và các tác giả Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Dương Đức Huyến đã lần lượt công bố trên tờ nguyệt san Orchids của Hội hoa lan Hoa Kỳ những khám phá mới lạ đã phát hiện thấy 4 loài lan ở Việt Nam chưa được biết đến đó là Paphio pledilum helenae, Renamthera citrina, Paphiopedilum hiepii và Vanda bidupensis. Hoa lan đa số mọc tại vùng nhiệt đới, đã được các thuyền trưởng, lái buôn, các nhà truyền giáo, khách du lịch mang về nên người Châu Âu biết đến rất muộn (Leonid V.
Pharatus (376 - 285 TCN) - cha đẻ của ngành lan học - là người đầu tiên dùng từ Orchid trong tác phẩm Nghiên cứu thực vật”. Sau đó Robut Bron (1773 - 1858) (dẫn theo Hoàng Ngọc Thuận, 2003) [17] là người đầu tiên phân biệt rõ ràng giữa họ lan và các họ khác. Năm 1794, ở Anh người ta đã biết đến 15 loài lan nhiệt đới. n 6 Giống Hồ điệp có trên 70 loài và càng ngày càng lai tạo ra rất nhiều.
Loài hoa này có xuất xứ ở miền Bắc Australia, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á như Philippines, Inđônêsia, bán đảo Đông Dương. Cây có thể mọc ở xứ nhiệt đới và đồi núi cao 2.000 mét nên vừa chịu khí hậu nóng ẩm lại vừa chịu khí hậu mát, nhiệt độ trung bình từ 200C đến 300C, trong đó điều kiện khí hậu lí tưởng nhất cho việc nuôi trồng loài hoa này là từ 220C- 270C. Việt Nam có khoảng 5-6 loài Hồ Điệp thuần, bao gồm Phalaenopsis gibbosa Sweet, Phalaenopsis mannii Rchob.f, Phalaenopsis braceana (Hook.f), Christenson, Phalaenopsis lobbii (Rchob.f), Phalaenopsis fuscata Rchob. Hầu hết đều có hoa nhỏ nhưng màu sắc sặc sỡ và hương thơm độc đáo.
Bên cạnh những loài lan hồ điệp thuần, những người yêu thích loài hoa này còn không ngừng sưu tầm, nhập và thuần dưỡng các giống nhập ngoại khiến chủng loài, màu sắc của Lan Hồ điệp trong nước ngày càng đa dạng, đặc sắc. Người Việt Nam biết đến lan từ vẻ đẹp thuần khiết của những bông hoa, những vị thuốc chữa bệnh được lưu truyền trong dân gian từ đời này qua đời khác. Vua Trần Anh Tông thích sưu tầm các loài hoa đã lập nên “Ngũ Bách Viên” với 500 loài lan quý. Vườn lan của Lữ Hồng Chiêu ở Phương Thanh Hà - Thăng Long gồm toàn những loài lan quý hiếm và có hương thơm ngào ngạt.
Đối với người Việt Nam hoa lan tượng trưng cho sự trang trọng và thanh cao. Những người chơi lan chủ yếu là những người giàu có, những Nho sĩ, cụ già nhàn rỗi… Mục “Hoa thảo” trong “Vũ trung tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ đã mô tả nhiều loài hoa như Thạch hoa, Thanh lan, Đông lan, Kiết lan đồng thời có nói rõ kỹ thuật trồng lan. Đặc biệt trong sách về cây thuốc của Hải Thượng Lãn Ông có nói đến những cây lan làm thuốc chữa bệnh (Việt Chương; Nguyễn Việt Thái, 2002) [5]. Tuy nhiên dấu vết về buổi đầu nghiên cứu lan ở Việt Nam không rõ rệt, có lẽ người đầu tiên khảo sát về lan ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ 17 là nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha - n 7 Joanisde Loureiro.
Nhưng chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam thì mới có những công trình nghiên cứu đáng kể. Ginillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài lan cho cả ba nước Đông Dương trong cuốn “Thực vật chí Đông Dương” do H. Lecomte chủ biên xuất bản năm 1932 đến 1934. Đến năm 1972, Phạm Hoàng Hộ trong bộ “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” (Quyển II) [8] đã mô tả kèm hình vẽ 289 loài lan gặp ở Việt Nam.
Năm 1993 ông lại công bố có 755 loài lan ở nước ta trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam” (Quyển III). Giới thiệu về lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) Lan Hồ Điệp (Phalaennopsis) là một trong những loại phong lan được trồng phổ biến nhất trên thế giới. Lan Hồ Điệp được mệnh danh là hoa hậu của các loài phong lan, được phát hiện đầu tiên năm 1750, đến năm 1852 dùng từ Blume để định danh. Đến nay đã phát hiện được hơn 70 loài, đa số mọc tại các vùng nóng ẩm của Châu Á, lan Hồ Điệp trồng thương thẩm đều là giống lai.
Nhu cầu hoa lan của thị trường quốc tế cũng tăng không ngừng. Đến năm 2002 trong bảng xếp hạng của Hà Lan, Hồ Điệp đứng thứ 2 trong 16 loại hoa được xếp hạng. * Phân loại hoa lan Hồ Điệp Năm 1753, Linnee đã dùng danh từ Orchid để chỉ các loài lan. Đến năm 1836, John Lindley (1779-1865) dùng danh từ Orchid để chỉ chung cho các loài lan và từ đó các loài lan được xếp thành một họ trong hệ thống phân loại gọi là Orchidaceae.
Ông công bố, sắp xếp các tông thuộc họ lan và tên của họ lan được dùng cho đến ngày nay (dẫn theo Trần Văn Bảo, 2001)[1]. - Apostasicideae - Vandoideae - Cypridicideae - Epidendroideae - Neottoideae - Orchidaeae n 8 Theo Leonid V. Averyanova (2003)[25] Việt Nam hiện nay người ta đã biết được 897 loài thuộc 152 chi. Chúng chiếm khoảng 75- 80% trong tổng số các loài lan ước tính của nước ta.
Trong đó một số chỉ có giá trị kinh tế lớn như Aerides (có 7 loài); Cymbidium (24 loài); Dendrobium (có 107 loài); chi Paphiopedilum (có 18 loài) và Rhychotilis (có 3 loài)… * Điều kiện trồng lan Hồ Điệp Giá thể trồng lan: Giá thể trồng lan Hồ Điệp phải khá tơi xốp và thoáng khí, đồng thời phải có khả năng giữ nước như gỗ mùn, than bùn khô, hạt đá nhỏ, rêu… Dưới rễ của cây non lót một lớp rêu hoặc trồng cây lan con trực tiếp vào rêu. Với những giá thể trồng khác nhau cũng phải có cách trồng và chăm sóc khác nhau, đặc biệt là chế độ tưới nước, với các giá thể kém giữ nước thì phải tưới thường xuyên hơn. + Xơ dừa Xơ dừa là nguyên liệu rất cần trong thành phần giá thể nuôi trồng lan, xơ dừa có nhược điểm là dễ mọc rêu, thông thoáng, dễ mục mặt trên, mau khô và nhẹ cho nên cây trong chậu hay bị đổ. Do vậy khi dùng xơ dừa trồng trong chậu phải chú ý chế độ tưới nước, không để bị ngậm nước gây thối rễ.
Nên dùng để lót đáy chậu hay rổ treo hoặc trồng những loại lan yêu cầu ráo nước. Cần chú ý các loại xơ dừa đề có nhiều muối ở trong nên cần phải ngâm nước vài ngày, xả cho sạch rồi mới trồng được. Theo kinh nghiệm các giống lan Laelia không ưa trồng bằng xơ dừa. + Vỏ cây Vỏ cây cũng là loại nguyên liệu quan trọng trong giá thể trồng lan, có rất nhiều vỏ cây có thể làm giá thể trồng lan nhưng nên chọn loại cây nào lâu mục để không làm chậu lan bí, đọng nước gây thối rễ.
Đồng thời đó cũng là môi trường thích hợp cho một số loài sâu hại rễ lan sinh sống, do vậy trồng lan bằng vỏ cây cần quan sát tình trạng của vỏ cây để thay chậu lan. Trong các loại vỏ có chất resin có tính sát khuẩn cao, lâu mục, không đóng rêu và ít các mầm bệnh gây hại. n 9 + Rong biển Dùng rong biển để làm giá thể trồng hoa lan ngoài việc giữ nước, dinh dưỡng và tạo độ thông thoáng cho rễ còn là nơi bám rất tốt cho bộ rễ. Trước khi dùng cần phải xử lý tiệt trùng trước và rửa đi rửa lại bằng nước sạch 3-4 lần.
Giai đoạn cây con của lan Hồ Điệp kéo dài, nếu dùng rong biển để làm giá thể ươm cây con thì phải chọn lựa loại rong biển chất lượng tốt nhất. Rong biển nếu không qua xử lý ở nhiệt độ cao thì vẫn có màu xanh và thành các đoạn ngắn, dễ bị thối mốc dẫn đến thối rễ lan, cây non sinh trưởng kém, các loại sâu bệnh có cơ hội và môi trường tốt để phát triển và làm chết cây con.