Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom gáo anthocephalus chinensis lam a rich ex walp tại

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom gáo Anthocephalus chinensis, cung cấp thông tin hữu ích cho ngành lâm nghiệp.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2014

47
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học của giâm hom

2.2. Cơ sở tế bào học

2.3. Cơ sở di truyền học

2.4. Cơ sở phát sinh phát triển cá thể

2.5. Sự hình thành rễ của hom giâm

2.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom

2.6.1. Ánh sáng

2.6.2. Nhiệt độ không khí và nhiệt độ giá thể

2.6.3. Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể

2.6.4. Giá thể cắm hom

2.6.5. Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng

2.6.6. Thời gian xử lý thuốc

2.6.7. Phương pháp xử lý hom

2.7. Những yêu cầu kỹ thuật cơ bản khi giâm hom

2.8. Những nghiên cứu trên thế giới

3. Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cây hom gáo và Anthocephalus Chinensis

Cây hom gáoAnthocephalus Chinensis là đối tượng nghiên cứu chính trong đề tài này. Cây hom gáo là một loài cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao, được sử dụng rộng rãi trong trồng rừng. Anthocephalus Chinensis là tên khoa học của cây gáo, thuộc họ cà phê (Rubiaceae). Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến quá trình hình thành cây từ hom, bao gồm các đặc điểm sinh học và kỹ thuật trồng cây. Mục tiêu là tìm ra phương pháp nhân giống hiệu quả, đảm bảo chất lượng cây con phục vụ cho trồng rừng.

1.1. Đặc điểm sinh học của cây gáo

Cây gáo có khả năng sinh trưởng nhanh, thích nghi với nhiều loại môi trường sống khác nhau. Đặc điểm này làm cho nó trở thành loài cây lý tưởng cho các chương trình trồng rừng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, đặc điểm sinh học của cây gáo, bao gồm khả năng ra rễ và chồi từ hom, phụ thuộc nhiều vào các yếu tố nội tại như độ dài hom, loại hom và điều kiện giá thể.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu cây gáo

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp cơ sở khoa học cho việc nhân giống cây gáo bằng phương pháp giâm hom. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp tối ưu hóa quy trình trồng cây, nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng cây con, từ đó góp phần vào việc phát triển bền vững ngành lâm nghiệp.

II. Yếu tố nội tại ảnh hưởng đến hình thành cây hom gáo

Các yếu tố nội tại như độ dài hom, loại hom và điều kiện giá thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành cây từ hom. Nghiên cứu này đã tiến hành thí nghiệm để xác định ảnh hưởng của các yếu tố này đến tỷ lệ sống, khả năng ra rễ và chồi của cây hom gáo. Kết quả cho thấy, độ dài hom và loại hom có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình ra rễ và phát triển của cây.

2.1. Ảnh hưởng của độ dài hom

Độ dài hom là một trong những yếu tố nội tại quan trọng nhất. Nghiên cứu chỉ ra rằng, hom có độ dài từ 10-15 cm cho tỷ lệ ra rễ cao nhất. Hom quá ngắn hoặc quá dài đều làm giảm hiệu quả của quá trình giâm hom. Điều này liên quan đến khả năng tích trữ dinh dưỡng và nước của hom, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển cây gáo.

2.2. Ảnh hưởng của loại hom

Loại hom cũng là yếu tố quan trọng. Hom được lấy từ cành non có tỷ lệ ra rễ cao hơn so với hom từ cành già. Điều này liên quan đến mức độ hóa gỗ của hom và khả năng tích lũy chất dinh dưỡng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hom từ cành non có khả năng thích nghi tốt hơn với môi trường sống mới.

III. Kỹ thuật trồng cây và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào các yếu tố nội tại mà còn đề xuất các kỹ thuật trồng cây hiệu quả. Các kỹ thuật bao gồm việc chọn giá thể phù hợp, sử dụng chất kích thích ra rễ và điều chỉnh điều kiện môi trường. Những kỹ thuật này đã được áp dụng thực tế tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, mang lại kết quả khả quan.

3.1. Chọn giá thể và chất kích thích

Giá thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình giâm hom. Nghiên cứu chỉ ra rằng, giá thể có độ thoát nước tốt và độ ẩm ổn định giúp tăng tỷ lệ ra rễ. Ngoài ra, việc sử dụng chất kích thích ra rễ như IAA và IBA cũng giúp cải thiện đáng kể quá trình hình thành cây từ hom.

3.2. Ứng dụng trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng trong thực tiễn sản xuất cây con tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Các kỹ thuật được đề xuất đã giúp nâng cao chất lượng cây con, đáp ứng nhu cầu trồng rừng với quy mô lớn. Điều này chứng minh giá trị thực tiễn của nghiên cứu trong việc phát triển cây gáo.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp sau này ở Việt Nam. Những năm 1983-1984, các thực nghiệm về nhân giống bằng hom được tiến hành tại Viện Lâm nghiệp (nay là Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), đối tượng nghiên cứ là loài Mỡ, Lát hoa, Bạch đàn (Nguyễn Ngọc Tân, 1983; Phạm Văn Tuấn, 1984), nội dung nghiên cứ tập trung vào đặc điểm cấu tạo giải phẫu của hom, ảnh hưởng nhiệt độ, độ ẩm môi trường, và xử lý các chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống và ra rễ của hom giâm [10]. Trong những năm 1990 trở lại đây, Lê Đình Khả và cộng sự đã nghiên cứu giâm hom cho Keo lá tràm, Keo tai tượng,… đã đạt kết quả, các thí nghiệm về loại nhà giâm hom, môi trường cắm hom, thời vụ và phương pháp xử lý chồi cũng được thực hiện. Từ kết quả của nghiên cứu này đã xây dựng được các hướng dẫn kỹ thuật nhân giống bằng hom, phục vụ cho các chương trình trồng rừng.

Ngoài ra, một số loài cây quý hiếm như Thông đỏ, Bách xanh cũng được nghiên cứu và đạt kết quả. n 9 Trong kỹ thuật giâm cành trên thế giới người ta sử dụng nhiều nền giâm hom khác nhau tùy thuộc vào điều kiện giâm, điều kiện khí hậu từng nước, thời vụ giâm và giống đem giâm, loại cành [13]. Những nền giâm (giá thể) hiện nay là sử dụng cát thô, than bùn, sơ dừa, đất, các chất vô cơ như Vani calete (hợp chất chứa Mica) peclite (đá chân trâu) dung nhan phun thạch núi lửa … Nếu chỉ giâm để cây hom ra rễ mới giâm vào bầu thì giá thể thường là cát thô, còn khi giâm hom trực tiếp vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, sơ dừa băm nhỏ đặt ở vườn ươm. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của giá thể giâm hom Bạch đàn trắng trong các ruột bầu khác nhau, tại Đông Nam bộ cho thấy: - Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là 74,1%.

- Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 72,1%. - Nếu ruột bầu là 50% sơ dừa + 50% than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 69,3%. - Nếu ruột bầu là 100% cát vàng thì tỷ lệ ra rễ của hom là 67,3%. - Nếu ruột bầu là 100% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là 48,3%.

- Nếu ruột bầu là than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 62,5%. Như vậy trong cùng 1 loài cây, các điều kiện như nhau nhưng giá thể khác nhau cũng cho tỷ lệ ra rễ khác nhau [4]. + Các chất điều hòa sinh trưởng có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm. Trong đó Auxin được sử dụng nhiều nhất, các Auxin được chia làm 2 nhóm là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp.

- Auxin tự nhiên được biết đến như: Axit Indol axete (IAA). - Các Auxin tổng hợp như là: Axit indol butylic (IBA), Axit indol propionicv (IPA) và Axit napthalen axetic (NAA), các chất được dùng chủ yếu hiện nay là thích ứng với 1 loại chất kích thích, nồng độ chất kích thích, thời gian xử lý thuốc và phương pháp xử lý hom cũng khác nhau. + Loại thuốc kích thích ra rễ khác nhau, có tác dụng khác nhau đến sự ra rễ của hom. Hom cây Mỡ 1 tuổi xử lý bằng IAA, IBB, NAA nồng độ 50 ppm trong 3 giờ có tỷ lệ tương ứng là: 74,1%; 93,8%; 53,3% [6].

- Cùng 1 loại thuốc nhưng nồng độ khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến tỷ lệ ra rễ của hom, nồng độ xử lý quá thấp không có tác dụng phân hóa tế bào để hình thành rễ, nồng độ quá cao làm cho hom thối rữa n 10 trước khi ra rễ. Hom Bạch đàn trắng (E.Cameldunensis) 4 tháng tuổi xử lý bằng IAA nồng độ 25 ppm; 50 ppm; 75 ppm; 100 ppm trong 3 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là 64,5%; 71,4%; 77,4% và 45,1% [2]. Như vậy khi nồng độ tăng tỷ lệ ra rễ tăng, nhưng khi nồng độ tăng quá cao (100 ppm) tỷ lệ ra rễ lại giảm xuống. Hom cây Mỡ 1 năm tuổi xử lý bằng IAA nồng độ 25 ppm tỷ lệ ra rễ giảm xuống còn 50%.

+ Thời gian xử lý thuốc: Cùng loài thuốc, cùng nồng độ nhưng thời gian xử lý khác nhau cũng cho kết quả khác nhau. - Hom bạch đàn trắng xử lý bằng IAA nồng độ 100 ppm trong thời gian 1; 3; 5; 8 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là 83,6%; 93,7%; 62,5%; 53,1%. - Với hom Mỡ xử lý bằng IAA nồng độ 100 ppm với thời gian 3; 5; 8; 16 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là: 74%; 81,3%; 73% và 55,7% [6]. + Nghiên cứu nhân giống cây Dầu rái bằng hom, tác giả đã sử dụng thuốc bột và thuốc nước cho của cùng một loại, cho kết quả là tỷ lệ ra rễ đối với thuốc bột là 80%, thuốc nước là 78,3% [3].

Khi xử lý hom bằng thuốc kích thích ra rễ cần biết rằng nồng độ và nhiệt độ không khí có mối quan hệ qua lại với nhau.Tổng quan địa điểm nghiên cứu *Vị trí địa lý Thí nghiệm được tiến hành tại vườn ươm Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Vùng núi phía Bắc, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, căn cứ vào bản đồ địa lý thành Phố Thái Nguyên thì vị trí của trường như sau: - Phía Bắc giáp với phường Quán Triều. - Phía Nam giáp với phường Tân Thịnh. - Phía Tây giáp với xã Phúc Hà. - Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.

* Địa hình: Địa hình của xã chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao. Độ dốc trung bình 10 - 15°, độ cao trung bình 50 - 70m, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. n 11 *Đất đai: Vườn ươm nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất ở đây là loại đất feralit phát triển trên đá sa thạch. Theo kết quả phân tích mẫu đất của trường: Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất Độ sâu Chỉ tiêu Chỉ tiêu dễ tiêu/100g đất tầng đất (cm) Mùn N P2O5 K2O N P2O5 K2O PH 1 - 10 1.7 (Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL Thái Nguyên) - Độ pH của đất thấp điều đó chứng tỏ đất ở đây chua.

- Đất nghèo mùn, hàm lượng N, P2O5 ở mức thấp. Chứng tỏ đất nghèo dinh dưỡng. Một số thông tin về cây Gáo Cây Gáo, tên khoa học là Anthocephalus chinensis (Lam) A. Thuộc họ Rubiaceace.

Cây Gáo là cây mọc nhanh kỳ lạ, nếu thâm canh cao, chỉ sau 5-8 năm là có gỗ lớn. Tại hội nghị Lâm nghiệp thế giới lần thứ 7, các nhà khoa học lâm nghiệp đã đánh giá cây Gáo là cây “kỳ tích”, là một trong những cây gỗ tốt có tiềm lực cực lớn để gây rừng nhân tạo mọc nhanh. 1) Đặc trưng hình thái và phân bố Cây Gáo là cây thường xanh hoặc nửa rụng lá, thân cao tới 35m, đường kính ngang ngực tới trên 100cm. Thân tròn, thẳng đứng, vỏ cây khi còn non có màu nâu tro, tròn nhẵn, khi trưởng thành có màu nâu, có sọc thẳng đứng.

Cành nhánh dài và phẳng, ngọn hơi rủ, tán hình dù. Thân cây con màu xanh, hình 4 cạnh, thân chính và cành có lõi xốp. Lá mọc đối, hình bầu dục, dài 20- 25cm, rộng 12-17cm, chiều dài lá có thể tới 40-70cm, mặt dưới có lông mượt. Hoa mọc ở ngọn, màu vàng trắng, hoa trụ vươn dài.

Quả chín màu vàng hung, quả sóc 4 ngăn, hạt nhỏ có cạnh. Phân bố ở các nước Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan… phân bố tự nhiên ở vùng 210°30’ vĩ bắc, 99°-108° kinh đông. ở Việt Nam, Trung n 12 Quốc thường gặp ở độ cao 450-650m, rất hiếm thấy ở độ cao 850-1000m, thông thường phân bố ở vùng đất ẩm ướt các thung lũng. 2) Đặc tính sinh học Cây Gáo là cây rừng mưa, nửa rụng lá của vùng nhiệt đới, nam á nhiệt đới, tập trung phân bố ở vùng có nhiệt độ không khí bình quân năm 20-24 oC, nhiệt độ tối cao cực trị 40 oC, tối thấp cực trị 4 oC, lượng mưa bình quân năm 1200 -2000mm, không có sương muối.

Ở vùng nam á nhiệt đới có nhiệt độ bình quân năm trên 19,5 oC, nhiệt độ tối thấp cực trị 0 oC, cũng có phân bố chút ít. Cây Gáo dễ bị sương muối gây hại, khi nhiệt độ thấp xuống -2oC, có 4-5 ngày sương giá, sẽ bị rét hại. Gáo ưa khí hậu ấm áp, đủ ánh sáng nếu đủ nhiệt lượng, độ ẩm cao, lượng mưa dồi dào, đất phì nhiêu. Gáo ưa sống ở nơi đất ẩm thấp gần nước, ven sông suối.

Trên đất đồi tơi xốp, tầng đất sâu, đất tốt, cây sinh trưởng rất tốt. Gáo sinh trưởng nhanh, sau 10 năm đã thành cây gỗ lớn. Theo Viện khoa học Lâm nghiệp Quảng Tây, Gáo 30 tuổi có đường kính ngang ngực 46,3cm, cao 22,7m, trong 1-5 năm đầu, cây vươn cao nhanh, lượng tăng trưởng bình quân năm tới 3-3,5m, trong 3-10 năm là thời kỳ cao điểm. Chứng tỏ cây Gáo mọc nhanh, sinh trưởng ở giai đoạn sau vẫn mạnh, ra hoa vào tháng 8, quả chín vào tháng 11-12.

3) Kỹ thuật trồng - Xử lý hạt: Hạt Gáo có màu vàng da cam, dễ bị chuột ăn, cần hái kịp thời. Do cây cao, nên dựa vào quả rụng, rồi thu hoạch. Quả thường chất thành đống để 1-2 tuần, khi vỏ thối nhũn thì tẽ hạt cho vào thùng chứa nước, hạt nổi lên trên được rửa tiếp 2-3 lần, rồi đưa vào chỗ ráo mát, tránh phơi nắng làm mất sức nẩy mầm. Hạt Gáo rất nhỏ, trọng lượng 100 hạt chỉ 0,004-0,005g.

Sau khi hong khô hạt cho vào túi nhựa hoặc lọ thủy tinh để bảo quản, thời gian lưu giữ không quá 5 tháng hạt gieo vào tháng 1-2 tỷ lệ nảy mầm 60%. - Ươm cây giống: Cây Gáo mọc nhanh, thời kỳ cây con không được quá dài. Chọn đất tốt, tưới tiêu nước thuận tiện để gieo hạt. Vườn ươm phải làm đất kỹ, bón đủ phân lót, lên luống.

Hạt ngâm vào nước 50-60oC rồi để nguội, sau đó ngâm nước lã 24h, vớt ra để ráo nước, trộn vào cát rắc hạt lên luống, lượng gieo 0,1-0,5g/m2, lấp một lớp cát mỏng khoảng 0,3 cm, sau đó dùng lưới che. Sau 10 ngày hạt nảy mầm, tỷ lệ 40-60%. Chú ý đề phòng kiến, n 13 sâu hại. Đất vườn ươm phải thường xuyên tưới ẩm.

Khi cây cao 4-5cm nhổ cây cho vào túi nilon, sau 3- 4 tháng cây cao 40-50cm đem trồng. - Kỹ thuật trồng: Gáo ưa trồng phân tán, tốt nhất là ở ven sông suối, ven ao hồ, ven đường, vườn nhà, không trồng thành rừng tập trung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng yếu tố nội tại đến hình thành cây hom gáo Anthocephalus Chinensis" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến quá trình hình thành cây hom gáo, một loại cây có giá trị kinh tế cao. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các điều kiện cần thiết để cây phát triển tốt mà còn chỉ ra những ứng dụng thực tiễn trong nông lâm nghiệp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom sao đen Hopea odorata Roxb tại trường đại học nông lâm Thái Nguyên, nơi bạn có thể tìm hiểu thêm về các yếu tố nội tại tương tự trong việc hình thành cây hom.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể khác nhau đến sinh trưởng của lan thạch hộc trong giai đoạn vườn ươm tại trường đại học nông lâm Thái Nguyên cũng sẽ cung cấp cho bạn những thông tin bổ ích về ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển của cây trồng.

Cuối cùng, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây sở Camellia sasanqua thumb giai đoạn vườn ươm tại xã Vô Ngại huyện Bình Liêu để có cái nhìn tổng quát hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng trong giai đoạn vườn ươm. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về lĩnh vực nông lâm nghiệp.