Đặt vấn đề Giống là một trong những khâu quan trọng của trồng rừng thâm canh. Không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao [5]. Trong những năm gần đây, các Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng trong cả nước đã tiến hành về chọn giống, khảo nghiệm và nhân giống cho nhiều loại cây rừng, đã đạt được một số kết quả bước đầu, mở ra một triển vọng lớn cho trồng rừng nguyên liệu ở nước ta. Những loài cây rừng sau khi đã được chọn lọc, khảo nghiệm thì việc lựa chọn phương pháp nhân giống có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc duy trì những tính trạng tốt của loài cây rừng.
Một trong những phương pháp nhân giống duy trì được nguyên vẹn những tính trạng tốt từ đời trước cho đời sau là phương pháp nhân giống bằng hom [11]. Họ Sao dầu (Dipterocarpaceae) bao gồm những loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao, tiêu biểu và chiếm ưu thế trong rừng mưa nhiệt đới. Với khoảng 580 loài nằm trong15 giống khác nhau, cây họ Sao dầu được phân bố rộng khắp, nhưng tập trung chủ yếu ở khu vực Đông nam châu Á. Đây là loài cây đặc hữu của vùng Đông nam châu Á và của Việt Nam, đặc sắc của khu vực Ấn độ - Mã Lai [14].
Cây họ Sao dầu cung cấp một nguồn tài nguyên dồi dào về gỗ và nhựa dầu thiên nhiên ở nước ta. Bên cạnh những giá trị kinh tế cao của họ Dầu như gỗ sử dụng cho công nghiệp đóng tàu, công nghiệp xây dựng, chất dầu cho dược liệu, nhựa dầu dùng chát ghe thuyền, pha sơn, chế biến vecni và sử dụng trong y học,… Chúng còn có ý nghĩa quan trọng về mặt sinh thái, là những loài cây sinh trưởng và phát triển tiên phong trong rừng nhiệt đới, cộng với khả năng hình thành mối quan hệ cộng sinh hữu ích với một số n 2 mô sinh vật đất, cây họ Dầu rất có triển vọng trong tất cả các hoạt động trồng và phục hồi rừng. Thêm vào đó, với khả năng hấp thụ khí CO2 lớn, cây họ Dầu còn được chọn làm đối tượng cho các dự án phục hồi rừng với quy mô lớn và đó được coi như là những biện pháp thuyết phục nhằm làm cân bằng lại lượng CO2 khí quyển, góp phần làm giảm hiệu ứng nhà kính. Rừng cây họ Sao dầu ở Việt Nam cũng giống như các nước trong khu vực đã và đang bị tàn phá.
Với khoảng 40 loài nằm trong 6 giống, bao gồm hầu hết các loại có giá trị kinh tế cao [8]. Hiện nay nhiều loại cây thuộc họ Sao dầu đang được coi là có nguy cơ bị tuyệt chủng [1]. Cùng với cây Dầu rái, Sao đen đang được coi là cây quan trọng để làm giàu rừng ở các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Đây cũng là loài cây được các nước Đông Nam Á coi là cây bản địa có giá trị trong các chương trình trồng rừng.
Sao đen là cây gỗ lớn chiếm ưu thế trong các rừng cây họ dầu ở Việt Nam, chúng rất có triển vọng trong các hoạt động trồng rừng và phục hồi rừng. Hiện nay, một khó khăn lớn gặp phải ở cây họ Sao dầu là thiếu cây giống chất lượng tốt đáp ứng cho các hoạt động trồng rừng. Do cây họ Sao dầu chỉ có chu kỳ ra hoa, kết hạt rất thất thường, dao động 2 -1,5 năm, hạt của chúng lại mất sức nảy mầm nhanh chóng, chỉ sau 2 tuần thu hái. Do vậy, nếu chỉ dựa vào nguồn hạt và cây con thu lượm tự nhiên thì các hoạt động trồng rừng và phục hồi rừng Sao dầu với quy mô lớn sẽ không thể thực hiện được [15,17].
Đứng trước tình hình thực tế đó, để công tác trồng rừng, phục hồi rừng cây họ Sao dầu có hiệu quả thì việc cung cấp giống bằng phương pháp giâm hom là việc cần thiết, bởi vì nhân giống bằng hom có đặc tính ưu việt do đó: cho phép giữ lại những đặc tính quý hiếm của cây bố mẹ, ở thế hệ sau nhận được vậy liệu di truyền là đồng nhất, đáp ứng nhu cầu trồng rừng quy mô lớn như hiện nay. Ngoài ra, nhân giống dinh dưỡng là một thủ pháp không thể thiếu được trong tiến hành bất kỳ trong một chương trình chọn giống nào. n 3 Song cần nhận thấy rằng, nhân giống cây rừng bằng hom không chỉ thay đổi phương thức sản xuất cây con, mà quan trọng hơn là để sản xuất cây con có chất lượng di truyền được cải thiện [13]. Đối với cây Sao đen nhân giống bằng hom mới chỉ thực sự bắt đầu, cần được ưu tiên phát triển trồng cây bản địa gỗ lớn này.
Xuất phát từ vấn đề trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom Sao đen (Hopea odorata Roxb) tại trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí trong nhân giống, tạo ra được cây con đảm bảo số lượng và chất lượng, cung cấp giống cho công tác trồng rừng hiện nay. Mục tiêu nghiên cứu Lựa chọn được loại hom đem giâm cho tỷ lệ ra rễ tốt nhất để sản xuất cây giống Sao đen. Lựa chọn được kích thước hom đem giâm cho tỷ lệ ra rễ tốt nhất để sản xuất cây giống Sao đen.
Ý nghĩa nghiên cứu - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo và xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống cây Sao đen. + Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, biết áp dụng và kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. + Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập khi ra thực tế. - Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Kết quả nghiên cứu vận dụng vào thực tế để sản xuất cây giống Sao đen n 4 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học của phương pháp nhân giống bằng hom Nhân giống bằng hom là phương pháp dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới gọi là cây hom, cây hom có có đặc tính di truyền như của cây mẹ.Nhân giống bằng hom là phương pháp có hệ số nhân giống lớn tương đối rẻ tiền nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả [5]. Vấn đề có ý nghĩa quyết định trong giâm hom là làm cho hom ra rễ, còn thân cây sẽ được hình thành từ chồi bên hoặc chồi bất định. Nếu sử dụng hom lá thì hom phải hình thành cả rễ và thân mới. Tuy nhiên khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận của cây lấy làm giống cũng như loại tế bào đã phân hóa của cây, do đó người ta phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chúng ra rễ.
Cơ sở tế bào của sự hình thành rễ bất định: Rễ bất định là rễ sinh ra ở bất kì bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của nó, rễ bất định có thể sinh ra tự nhiên (ví dụ: Đa, Si, khi ra rễ là mọc từ cành và đâm dài xuống đất, còn cây Cau, Dừa thì rễ lại mọc ra từ giữa các thân). Có hai loại rễ bất định là: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh, rễ tiềm ẩn là rễ có nguồn gôc tự nhiên trong thân, cành cây nhưng chỉ phát triển khi đoạn thân hoặc cành đó tách ra khỏi cây, còn rễ mới sinh được hình thành khi cắt hom và là hậu quả của phản ứng với vết cắt, khi hom bị cắt các tế bào sống ở vết cắt bị tổn thương và các tế bào dẫn truyền của mô gỗ được hở ra và gián đọan, sau đó quá trình tái sinh xảy ra theo ba bước: Các tế bào bị thương ở mặt một lớp bần, mạch gỗ được đậy lại bằng keo, lớp bảo vệ này giúp cho mặt cắt khỏi thoát nước. + Các tế bào sống ở ngay dưới lớp bảo vệ đó sẽ bắt đầu phân chia ngay sau khi bị cắt vài ngày và có thể hình thành một lớp mô mềm. Các tế bào ở vùng lân cận của tượng tầng mạch và li be bắt đầu hình thành rễ bất định.
n 5 + Cây gỗ có một hoặc nhiều lớp mô gỗ thứ cấp và li be thì rễ bất định thường phát sinh ở tế bào như mô còn sống của hom bắt nguồn từ li be thứ cấp còn non. Tuy nhiên, đôi khi rễ bất định cũng phát sinh từ mạch dây, tượng tầng, li be, bì khổng và tủy. Nói chung, các rễ bất định thường được hình thành bên cạnh và sát ngoài lõi trung tâm của mô mạch và ăn sâu trong thân (cành) tới gần ống mạch sát bên ngoài tượng tầng. Như vậy: Việc giâm hom để hình thành bộ rễ mới là quan trọng nhất, sau đó là số lượng rễ trên hom, chiều dài của rễ.
Cơ sở sinh lý của sự hình thành chồi và rễ bất định Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ trong quá trình giâm hom về cơ bản có thể chia làm 2 nhóm chính: Nhóm nhân tố nội sinh và nhóm nhân tố ngoại sinh [12]. Các nhân tố nội sinh: Đặc điểm di truyền của loài: Kết quả nghiên cứu của (A.) đều đi đến một kết luận chung nhất là: Các loại cây khác nhau thì đặc điểm ra rễ khác nhau. Các tác giả này đã dựa vào khả năng ra rễ để chia làm 3 nhóm: + Nhóm dễ ra rễ: bao gồm các loại cây không cần sử dụng chất kích thích vẫn có tỉ lệ ra rễ cao, nhóm này gồm 29 loại như: Đa, Sung, Tre, Nứa, Dương… + Nhóm khó ra rễ: bao gồm các loại hầu như không ra rễ hoặc phải dùng chất kích thích rễ mà vẫn cho tỷ lệ ra rễ thấp. + Nhóm ra rễ trung bình: bao gồm các loại chỉ sử dụng chất kích thich với nồng độ thấp cũng có thể ra rễ với tỉ lệ cao.
Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng các thể: Trong một chi, các loài khác nhau cũng có đặc điểm ra rễ khác nhau (ví dụ: Bạch đàn trắng có tỉ lệ ra rễ 50- 90%, nhưng với Europhylla chỉ ra rễ 15- 35,5%. n 6 Trong một loài các xuất xứ khác nhau có tỷ lệ ra rễ khác nhau.camaldulensis xuất xứ Victroria River 60,0%, còn E.camaldulensis xuất xứ Gibb River là 85,0 %, E.camaldulensis xuất xứ Nghĩa Bình: 35% [3].