Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về chi Sa nhân 1. Tên gọi, phân loại và đặc điểm sinh học * Tên gọi và phân loại: Theo Thực vật chí Trung Quốc, chi Sa nhân (Amomum) là chi lớn thứ 2 của họ Gừng với khoảng 150 loài (Jiang Ke et al.
* Đặc điểm sinh học: - Về hình thái, H. Lecomte (1907) đã mô tả đặc điểm hình thái chung của các loài trong chi Sa nhân là cây thân thảo cao, sống nhiều năm, thường mọc thành đám, có thân rễ bò lan trên khắp mặt đất, thân mang lá cao 1 - 3m. Lá mọc so le thành hai dãy hướng lên phía ngọn; phiến lá thuôn dài, đầu lá có mũi nhọn. Lưỡi bẹ ngắn, mỏng.
Cụm hoa dạng bông phân nhánh, quả nang hình trứng hoặc gần hình cầu. - Về sinh thái, cũng theo tác giả H. Lecomte (1907), Zheng Haishui & He Kejun (1991) và 刘长成, 魏雅芬,刘玉国,等 (2009), cho rằng các cây trong chi Sa nhân đều là cây ưa ẩm, chịu bóng nhẹ, khi cây phát triển nhu cầu ánh sáng cần nhiều hơn lúc còn nhỏ. Cây thích nghi ở độ cao đến 1.000m, nhiệt độ thích hợp từ 22 - 28oC.
- Phân bố: Trên thế giới, chi Sa nhân phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới phía Nam và Đông Nam Á và châu Úc, một số loài mở rộng đến vùng ôn đới (Jiang Ke et al., 2000, Delin Wu & Kai Larsen, 2004). Theo Catherine Aubertin (2004), 夏焕 柏. (2010), đã thống kê được ở Ấn Độ có 48 loài, Indonesia tổng số có 43 loài gồm đảo Borneo có 30 loài và đảo Java có 13 loài, còn ở Trung Quốc đã ghi nhận có 24 loài, trong đó đã phát hiện loài Sa nhân tím có phân bố tại Trung Quốc và Lào. Hiện nay, các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của các loài Sa nhân còn rất khá ít, mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá về đặc điểm nơi trồng và yếu tố nhiệt độ.
Các nghiên cứu cho thấy tất cả các loài Sa nhân được trồng ở Lào và 7 Trung Quốc đều có nguồn gốc từ cây mọc tự nhiên và đem trồng ở vùng nhiệt đới. Nơi trồng là vùng núi có độ cao từ 350 - 1000m. Nhiệt độ thích hợp cho Sa nhân sinh trưởng, phát triển tốt từ 22 - 28oC. Do đó, cần phải có nghiên cứu bổ sung để có đánh giá chính xác và toàn diện về đặc điểm sinh thái của loài Sa nhân tím.
Giá trị sử dụng: Theo tác giả 杨主泉. (2013), 姚 健,王 丁,张显松, 等 (2009), trong y học cổ truyền Trung Quốc có nhiều vị thuốc được lấy từ cùng một bộ phận của một số loài cây thuốc cùng chi, cùng họ thì thường mang chung một tên gọi. Tương tự vậy, vị thuốc “Sa nhân” là khối hạt khô, Trong chi Sa nhân phần lớn đều là loại dược liệu quý, được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền tại Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Lào và Việt Nam. Chọn giống, nhân giống Zheng Haishui & He Kejun (1991) cho biết tại Trung Quốc đã chọn được 3 loài thuộc chi Sa nhân là Sa nhân tím, Sa nhân thân cao (Amomum ovoideum) và Sa nhân đỏ (Amomum villosum) để gây trồng với diện tích lớn.
Kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái, sơ chế và bảo quản Theo Zheng Haishui và He Kejun (1991), 国家药典委员会. (2010), kết quả trồng thử nghiệm 3 loài Sa nhân tím, Sa nhân thân cao (Amomum ovoideum) và Sa nhân đỏ (Amomum villosum) theo phương thức trồng hỗn giao với cây Cao su tại đảo Hải Nam, Trung Quốc, tác giả đã khẳng định chỉ có loài Sa nhân tím cho năng suất quả cao nhất và được trồng với diện tích lớn nhất. Như vậy, đã có 4 loài thuộc chi Sa nhân (Amomum) được đưa vào trồng thử nghiệm tại Trung Quốc và Lào, trong đó loài Sa nhân tím được các tác giả quan tâm nghiên cứu nhiều nhất. Nghiên cứu về cây Sa nhân tím 1.
Tên gọi, phân loại và đặc điểm sinh học * Tên gọi và phân loại: Sa nhân tím được phát hiện từ năm 1975 nhưng đến năm 1977 mới được tác giả Wu T. mô tả và đặt tên khoa học là Amomum 8 longiligulare T. Zheng Haishui và He Kejun (1991), 彭建明,李荣英,李戈,等 (2011), 汤丽云,何国振,苏景,等 (2012), cho biết Trung Quốc là nước sớm tiến hành nghiên cứu về cây Sa nhân. Những nghiên cứu liên quan đến Sa nhân tím đều được các tác giả sử dụng tên khoa học là Amomum longiligulare T.
Còn tại Lào, khi nghiên cứu về cây Sa nhân tím, tác giả Catherine Aubertin (2004) cũng dùng danh pháp khoa học của Sa nhân tím là Amomum longiligulare T. Như vậy, từ năm 1977 đến nay các nghiên cứu tại Trung Quốc, Lào và tài liệu công bố trên các hội nghị quốc tế đều sử dụng danh pháp Amomum longiligulare T.Wu là tên gọi cho loài Sa nhân tím. * Đặc điểm sinh học: Về đặc điểm hình thái, theo Jiang Ke và cộng sự (2000), 高伟. (2011), cây Sa nhân tím là loại thảo dược sống lâu năm, cao từ 1 - 1,5m, còn Chen Zhenxia và cộng sự (2016) cho rằng Sa nhân tím cao từ 1 - 2,5 và tối đa là 3m.
Jiang Ke và cộng sự (2000) đã mô tả chi tiết lá Sa nhân tím màu xanh, nhẵn, phiến lá dài 20 - 30 cm, rộng 2,5 - 3,0 cm, đầu lá nhọn dài 1,0 - 3,0 cm, cuống lá ngắn, dài 0,5cm. Hoa có màu trắng, lá bắc màu tím, nhụy hoa màu vàng. Quả nang hình trứng dài 1,5 - 2,2 cm, rộng 0,8 - 1,2 cm, chia làm 3 ô hình tam giác, vỏ quả có gai dài 1,0 mm. Hạt màu tím được bao bọc bởi một lớp thịt quả màu nâu.
Về thời gian ra hoa, Jiang Ke và cộng sự (2000) cho biết mùa ra hoa của Sa nhân tím từ tháng 4 - 5, còn Chen Zhenxia và cộng sự (2016) cho rằng Sa nhân tím ra hoa kéo dài từ tháng 5 - 11, đây chính là đặc điểm khác biệt chỉ có loài Sa nhân tím ra hoa 2 vụ trong một năm và các tác giả đều khẳng định thời gian Sa nhân tím hình thành quả đến khi quả chín kéo dài từ tháng 6 - 9. Như vậy, có thể khẳng định việc mô tả đặc điểm hình thái của loài Sa nhân tím được các tác giả mô tả khá chi tiết và giống nhau. Theo Zheng Haishui & He Kejun (1991), Chen Zhenxia và cộng sự (2016), Yang Rui-pei và cộng sự (2014), Catherine Aubertin (2004) đều có nhận xét giống nhau về phân bố của Sa nhân tím hiện chỉ thấy ở đảo Hải Nam, Trung Quốc và cao 9 nguyên Pôlôven, Lào. Như vậy, có thể khẳng định Sa nhân tím là loài có phân bố tương đối hẹp và mới phát hiện thấy ở Trung Quốc, Lào và Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của Sa nhân tím đã được một số tài liệu công bố khá chi tiết, trong đó có thể kể đến một số tác giả điển hình như Chen Zhenxia và cộng sự (2016), Yang Rui-pei và cộng sự (2014), 刘倩倩,徐一帆,林新 春,等 (2012), cho rằng Sa nhân tím là một loại cây bán nhiệt đới, sinh trưởng tốt trong môi trường mát, ẩm ướt và có sương mù. Kết quả nghiên cứu của Chen Zhenxia và cộng sự (2016) cho thấy yếu tố khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển và đặc biệt đến khả năng ra hoa của Sa nhân tím, thích nghi mọc dưới tán cây thân gỗ, cây bụi với độ che sáng từ 50 - 70% và sinh trưởng kém ở những nơi có ánh sáng mặt trời trực tiếp. Trong giai đoạn cây con và cây mới trồng cần độ che sáng nhiều hơn lên tới 70 - 80%, trồng sau 2 - 3 năm cần độ che sáng từ 60 - 70%, sau 3 năm trồng nên điều chỉnh độ che sáng xuống 50 - 60%. Tác giả cho biết thêm nếu độ che sáng quá cao, cây phát triển mạnh nhưng ra hoa ít.
Nhiệt độ phù hợp trung bình năm là 22 - 300C, đặc biệt là trong thời kỳ nở hoa nhiệt độ thích hợp cho sự thụ phấn trên 250C sẽ cho tỷ lệ cao nhất. Nếu nhiệt độ dưới 220C hoặc cao hơn 320C sẽ làm giảm khả năng thụ phấn. Về nhu cầu nước thích hợp cho Sa nhân tím với lượng mưa hàng năm lên tới ≥2.500mm và độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 80%, đặc biệt khi ra hoa lượng sương mù và độ ẩm đất cao hơn 20% sẽ cho kết quả cao hơn. Ngược lại, trong trường hợp thời tiết mưa liên tục, hoa sẽ bị thối rữa và dễ bị bệnh hoặc hạn hán kéo dài sẽ làm khô hoa và làm giảm tỷ lệ đậu quả, quả lép.
Sa nhân tím thích nghi với nhiều loại đất và những nơi đất thoát nước. Yang Ruipei, Xu Shanxiong, Chen Wei, Lai Xiaoping, He Guozhen (2014), 徐臣善 (2011), cho rằng để tăng năng suất trồng Sa nhân tím ở Hải Nam, thì việc nghiên cứu các đặc tính sinh sản như số hoa, sức sống của hạt phấn, khả năng tiếp nhận đầu nhụy, tỷ lệ rụng quả và sức sống của phấn hoa trong các điều kiện bảo quản khác nhau là rất quan trọng. Kết quả cho thấy mỗi chùm hoa Sa nhân tím ở 10 Hải Nam có 7,28 (± 0,83) hoa, thời gian ra hoa là 1,5 ngày; sức sống hạt phấn đạt 83,6% khi hoa vừa hé nở, giảm xuống 21,0% sau 12h và 11,4% sau 24 giờ; tỷ lệ thụ phấn nhân tạo và tỷ lệ thụ phấn tự nhiên là 64,10 (± 29,80)% và 17,55(± 1 5,49)%, tỷ lệ rụng quả lần lượt là 20,65(± 31,39)% và 11,11(± 32,34)%. Sức sống của phấn hoa được bảo quản ở độ ẩm cao trong 12 giờ giảm xuống còn 0,6%, trong khi sức sống của phấn hoa được bảo quản trong điều kiện nhiệt độ thấp và độ ẩm cao trong 12 giờ là 23,4%, cho thấy nhiệt độ thấp thuận lợi hơn cho việc bảo quản phấn hoa.
Giá trị sử dụng Chen Zhenxia và cộng sự (2016), Yang Rui-pei và cộng sự (2014), Catherine Aubertin (2004) cho biết quả Sa nhân tím là vị thuốc quý điều trị các bệnh về cao huyết áp, Cholesterol cao trong máu, sẩy thai, đau dạ dày, kiết lỵ, tiêu hóa và được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền tại Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Lào và Việt Nam. Bên cạnh giá trị sử dụng làm thuốc, quả Sa nhân còn được dùng làm gia vị hoặc chiết suất lấy tinh dầu dùng trong công nghệ mỹ phẩm nước hoa, xà phòng, dầu gội đầu. Theo Dược điển Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (tái bản năm 2010, tập 1) quả Sa nhân tím là một trong bốn loại thuốc nam chủ yếu dung trong y học cổ truyền. Còn Jiang Lin, Li Zhengyu (1990), Fan L.