Đặt vấn đề Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện đặc trưng của hệ sinh thái rừng là sự xuất hiện của một thế hệ cây non của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng ( hoặc mất rừng chưa lâu ), dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng, trên đất rừng sau khai thác, trên đất rừng sau đốt nương làm rẫy,…Vai trò lịch sử của thế hệ cây non này là thay thế thế hệ cây già cỗi. Theo nghĩa đơn thuần thì tái sinh cây rừng là sự ra hoa, kết quả và sinh sản của cây rừng để bảo tồn và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Xét về bản chất khoa học, tái sinh cây rừng diễn ra với 3 hình thức : tái sinh hạt, tái sinh chồi và tái sinh thân ngầm. Mỗi hình thức tái sinh trên đều có quy luật riêng và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau.
Riêng đối với các loài tre nứa tái sinh cây rừng chủ yếu bằng thân ngầm. Quá trình tái sinh bằng thân ngầm diễn ra hàng năm. Mặc dù vậy, qua một số năm, các loài tre nứa cũng trở lại tái sinh bằng hạt, đó là hiện tượng tre nứa bị khuy. Đối với mỗi loài cây, trước khi nghiên cứu các phương thức tác động để đạt được kết quả như mong muốn thì trước tiên phải tìm hiểu về loài cây đó, về tất cả các yếu tố khác nhau trong đời sống của cây.
Từ đó, làm cơ sở để đề xuất các biện pháp xúc tiến tái sinh cho loài nhằm giúp cây sinh trưởng phát triển tốt hơn đem lại lợi ích về nhiều mặt khác nhau. Loài Bương lông Điện Biên có các tên gọi khác là Bương lớn, Bương lớn Điện Biên, hay tên địa phương là Mạy púa mơi. Là một trong những loài tre có kích thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao 18 - 24 m, đường kính gốc 20 - 25 cm, có vách dày, chiều dài đốt từ 25 - 30 cm, ít cành nhánh, khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản phẩm rất cao. Mặt khác, e 2 hiện nay việc kinh doanh cây Bương lông Điện Biên vẫn theo hướng quảng canh, dựa vào kinh nghiệm của người dân địa phương và điều kiện tự nhiên sẵn có là chính nên năng suất không cao.
Khả năng tái sinh của Bương lông Điện Biên chưa có nhiều người quan tâm biết đến chủ yếu là tái sinh tự nhiên từ thân ngầm, cũng như khả năng xúc tiến tái sinh loài Bương lông Điện Biên còn thiếu hướng dẫn kỹ thuật, ít có khả năng đáp ứng số lượng giống lớn cho gây trồng nhân rộng. Người dân địa phương khai thác một cách chưa hợp lý về loài cây này, tình hình sinh trưởng cũng như tái sinh có rất ít công trình nghiên cứu. Từ thực tiễn đó đòi hỏi phải có các biện pháp thiết thực hơn cung cấp cho người dân được biết về giá trị của loài cây này để có cách nhìn nhận sâu hơn về nó, cùng với đó tiến hành các mô hình thử nghiệm trên thực tế để phát triển loài Bương lông Điện Biên trên diện rộng theo hướng xúc tiến về mặt tái sinh phát huy tối đa tiềm năng đích thực của nó đáp ứng mục tiêu tiêu dùng, kinh doanh cũng như làm tăng tính đa dạng sinh học. Xuất phát từ những lý do nêu trên, được sự cho phép của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Ban Chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ, viên chức Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ.
Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh cây Bương lông Điện Biên (Dendrocalamus giganteus) tại một số tỉnh miền núi phía Bắc” được đặt ra là hết sức cần thiết, phù hợp với yêu cầu khoa học và thực tiễn, làm cơ sở giúp đồng bào dân tộc trong việc phát triển loài cây này tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu 1. Về lý luận Xác định được cơ sở khoa học về đặc điểm tái sinh của cây Bương lông Điện Biên. Về thực tiễn Đề xuất được một số biện pháp xúc tiến tái sinh cây Bương lông Điện Biên.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Tìm hiểu và làm quen với một số phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng. - Quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, phương hướng giải quyết vấn đề trong thực tiễn. - Góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, gây trồng cây Bương lông Điện Biên.
Ý nghĩa thực tiễn - Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý bền vững nguồn tài nguyên rừng. - Đề xuất được một số biện pháp nhằm xúc tiên tái sinh loài Bương lông Điện Biên, đề xuất để giúp loài sinh trưởng, phát triển tốt và nhân rộng loài. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu có giá trị, có ý nghĩa tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài Tre - trúc thuộc họ Hòa thảo (Poacae), lớp cây một lá mầm. Trên thế giới hiện nay có khoảng 1.300 loài thuộc 70 chi, nước nhiều tre nhất là Trung Quốc với khoảng 50 chi với 500 loài, ở Việt Nam có 25 chi 216 loài. Tre - trúc là lâm sản ngoài gỗ có rất nhiều công dụng, có thể nói từ thân, gốc, rễ, lá, quả đều được sử dụng triệt để, bộ phận được sử dụng rộng rãi đó là thân khí sinh. Do thân khí sinh của tre - trúc có nhiều đặc tính tốt nên sử dụng trong xây dựng nhà cửa, dùng làm đồ gia dụng, làm bố mảng, cầu phao.
Hiện nay, công nghiệp phát triển, tre - trúc là nguồn nguyên liệu quý giá cho sản xuất giấy cao cấp, cho ván sàn, ván ép, đồ mộc cao cấp, chiếu, than hoạt tính, thủ công mỹ nghệ…, tre - trúc thay thế được gỗ trong nhiều lĩnh vực. Với công nghệ chế biến cao, những sản phẩm sản xuất từ tre - trúc không những đẹp mà còn có độ bền cao, khả năng chịu nén, chịu lực tốt. Thân tre - trúc có tỷ trọng cao, nhiều lỗ hổng và nhiều chất khoáng, thân Tre được Cacbon hoá có nhiều ứng dụng như làm chất khử mùi, điều hòa độ ẩm, chặn súng hồng ngoại, ngăn cản điện từ, than được sử dụng nhiều trong cuộc sống. Nhiệt lượng 1 kg than hoạt tính có thể đạt 7.703 kcal cao hơn so với than hoạt tính gỗ, than có khả năng lọc nước tốt.
Gốc, thân tre - trúc có thể tạc tượng, thân ngầm và cành đều có thể sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ. Lá một số loài có thể xuất khẩu, lá dùng để chế biến thuốc kháng sinh chống một số bệnh như cảm, cúm… Việt Nam có 10 loài tre - trúc cho măng ăn ngon (Mai ống, Luồng, Lồ ô, Là ngà, Trúc sào, Vầu đắng, Tre gầy…). Tuy nhiên, các loài cho măng ngon năng suất cao, chất lượng tốt chưa được phát triển, việc khai thác măng chỉ dừng lại ở mức độ tận dụng. e 5 Tre - trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, mức tái sinh nhanh, dễ chế biến nên được sử dụng rất nhiều trong các mục đích khác nhau của con người, đặc biệt là người dân nông thôn cả đồng bằng và người dân miền núi.
Nhìn chung, tre - trúc có thể được sử dụng trong xây dựng, thực phẩm, phục vụ mục tiêu văn hóa và một số các công dụng khác. Ngày nay, tre - trúc có rất nhiều hữu ích trong lĩnh vực khác nhau, thân cây lớn được đồng bào dân tộc vùng cao dùng làm máng dẫn nước, làm dui mè để làm nhà , làm nguyên liệu cho công nghiệp giấy, chế biến thay thế cho gỗ có hiệu quả cao. Ngoài việc sử dụng tre - trúc cho xây dựng thì măng còn là một nguồn thực phẩm tốt và cũng là một nguồn thu nhập quan trọng của người dân miền núi. Trong thời gian gần đây, việc trồng tre lấy măng đang phát triển mạnh mẽ, góp phần xóa đói giảm nghèo và tăng đáng kể về mức chi phí đầu tư cho công việc khác lẫn công ăn việc làm cho người dân.
Măng của tre, bương ăn rất ngon, có thể ăn tươi hoặc phơi khô và cũng có thể đóng hộp. Một bụi cây to có thể cho tới 180 kg măng tươi/bụi/năm. Măng tươi của bương lông được thị trường rất ưa chuộng, măng đầu vụ có thể bán 3.000đ/kg, trọng lượng măng lúc khai thác có thể đạt tới 10 kg/1măng. Có bụi một năm thu được 10 - 15 măng.
Xuất phát tiêu điểm như vậy và cũng nhìn nhận, đánh giá khả quan về tình hình ngoài thực tế đối tượng là tái sinh cây Bương lông điện biên. Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh cây Bương lông Điện Biên (Dendrocalamus giganteus) tại một số tỉnh miền núi phía Bắc” được đặt ra là hết sức cần thiết, phù hợp với yêu cầu khoa học và thực tiễn. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Trên thế giới 2.
Nghiên cứu chung về tre trúc Tre trúc bao gồm những loài thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Cỏ (Poaceae). Trên thế giới có khoảng 500 loài tre. Riêng Việt Nam có khoảng trên 200 loài, phân bố ở hầu hết các tỉnh trong phạm vi toàn quốc. e 6 Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước vùng phía nam và Đông Nam Á.
các nước này người dân đã biết sử dụng tre - trúc từ lâu đời để tạo ra hàng trăm sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống hàng ngày. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo. Tre trúc cũng là vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải,. Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành đối tượng cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị.
Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị trường quốc tế và được nhiều nước châu Âu, châu Mỹ ưa chuộng.