Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây Phay (Duabanga grandiflora Roxb.ex DC, trong văn bản ghi Duabanga grandis flora Roxb.ex DC) là loài cây thân gỗ lớn sinh trưởng nhanh, thuộc họ Bần (Sonneratiaceae), gỗ nhóm VI. Loài cây này đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa vào danh mục tập đoàn cây trồng phục vụ mục đích kinh doanh rừng gỗ lớn và phòng hộ. Trong tự nhiên, Phay thường phân bố ở chân núi, ven khe suối, các thung lũng ẩm ướt, ưa lập địa đất sâu mát hoặc đất pha lẫn đá, mọc hỗn giao với các loài cây như Vàng anh, Vả, Dâu da đất. Quá trình tái sinh tự nhiên của cây Phay trong rừng rất hạn chế; hạt Phay nhỏ, phát tán tự nhiên chỉ nảy mầm và phát triển khi gặp điều kiện môi trường tối ưu, dẫn đến số lượng cá thể tái sinh ít và chất lượng cây con không đồng đều.

Để đáp ứng nhu cầu trồng rừng quy mô lớn, khâu chọn tạo và sản xuất giống giữ vai trò quyết định. Phương pháp nhân giống hữu tính từ hạt truyền thống bộc lộ nhược điểm về nguồn hạt giống hạn chế và độ phân ly di truyền cao. Trong khi đó, nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom cho phép nhân nhanh số lượng lớn cây con, giữ nguyên các đặc tính di truyền quý của cây mẹ, đồng thời có chi phí đầu tư thấp hơn so với kỹ thuật nuôi cấy mô. Tuy nhiên, khả năng hình thành rễ và chồi của hom chịu ảnh hưởng bởi đặc tính sinh lý của từng loài cây, trạng thái sinh lý của cành hom và điều kiện ngoại cảnh. Tại Việt Nam, chưa có công bố nghiên cứu thực nghiệm nào về nhân giống giâm hom cho cây Phay. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài được thực hiện nhằm xác định các thông số kỹ thuật thích hợp cho việc nhân giống loài cây này.

Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  • Mục đích: Góp phần tạo nguồn giống cây con chất lượng cao của cây Phay cung cấp cho công tác trồng rừng lấy gỗ lớn và rừng phòng hộ.
  • Mục tiêu: Lựa chọn được thời vụ giâm hom và loại hom cho tỷ lệ ra rễ, ra chồi cao nhất trong quy trình nhân giống sinh dưỡng cây Phay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ giâm hom (vụ Đông và vụ Xuân) đến tỷ lệ sống, khả năng ra rễ và khả năng sinh trưởng chồi của hom cây Phay.
    2. Đánh giá ảnh hưởng của vị trí cắt hom (hom ngọn, hom giữa, hom gốc) đến tỷ lệ sống, khả năng ra rễ và chỉ tiêu chồi của hom cây Phay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hom cành cây Phay 1 tuổi, lấy ở các vị trí hom ngọn, hom giữa và hom gốc.
  • Phạm vi không gian: Vườn ươm thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên (khu vực chân đồi, đất feralit phát triển trên đá sa thạch).
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 4 năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở sinh học của nhân giống bằng hom dựa trên lý thuyết hình thành rễ và chồi bất định ở thực vật. Rễ bất định hình thành do phản ứng sinh lý sau khi cành hom bị cắt rời khỏi cây mẹ: các tế bào sống tại vết cắt bị tổn thương kích thích quá trình phân bào nguyên phân, hình thành lớp mô sẹo (callus) bảo vệ bề mặt chống mất nước và nhiễm khuẩn; tiếp đó, các tế bào cận kề tầng phát sinh libe - gỗ phân hóa tạo tiền mầm rễ và phát triển thành rễ mới. Quá trình này được điều hòa bởi tương tác giữa các phytohormone nội sinh (nhóm Auxin tự nhiên như IAA, đối kháng với các chất ức chế như ABA, xanthoxin) và các chất điều hòa sinh trưởng ngoại sinh bổ sung (IBA, NAA).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm ngoài hiện trường được bố trí cụ thể:

  • Thí nghiệm 1 (Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ): So sánh 2 thời điểm giâm hom gồm vụ Đông (tháng 11 - 12/2014) và vụ Xuân (tháng 3 - 4/2015). Quy mô mỗi thời vụ là 90 hom, theo dõi trong điều kiện kỹ thuật đồng nhất.
  • Thí nghiệm 2 (Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hom): Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 3 công thức:
    • Công thức 1 (CT1): Hom ngọn
    • Công thức 2 (CT2): Hom giữa
    • Công thức 3 (CT3): Hom gốc Thí nghiệm gồm 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại theo dõi 30 hom (tổng số 90 hom cho mỗi công thức), thực hiện trong vụ Xuân (tháng 3 - 4/2015).

Quy trình chuẩn bị vật liệu và chăm sóc:

  • Chọn cành bánh tẻ, cắt vào sáng sớm, bảo quản trong nước sạch, hom có chiều dài 4 - 5 cm, gốc cắt vát 45 độ bằng dao sắc nhằm tăng diện tích tiếp xúc với thuốc và kích thích tạo mô sẹo.
  • Hom được ngâm khử trùng bằng dung dịch thuốc tím (KMnO4) nồng độ 0,3% trong 30 phút hoặc dung dịch Viben C50 nồng độ 0,3% (3 g/lít nước).
  • Xử lý kích thích ra rễ bằng chất điều hòa sinh trưởng Axit Indolbutyric (IBA) nồng độ 750 ppm theo phương pháp chấm gốc nhanh.
  • Nền giâm hom là luống cát sạch thoát nước dày 25 cm, xử lý thuốc tím 0,3% trước khi cắm hom 12 giờ. Độ sâu cắm hom từ 1 đến 1,5 cm. Luống giâm được che vòm nilon kín giữ ẩm và mái lưới đen giảm 50% ánh sáng bức xạ. Chế độ tưới phun sương mù duy trì 1 lần/giờ trong 4 tuần đầu, sau đó giảm xuống 6 lần/ngày.

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:

  • Số liệu được ghi chép định kỳ 20 ngày, 40 ngày và kết thúc ở 60 ngày sau khi cắm hom.
  • Các chỉ tiêu theo dõi gồm: số hom sống, số hom ra rễ, số rễ trung bình/hom, chiều dài rễ trung bình (cm), chỉ số ra rễ (Số rễ TB/hom × Chiều dài rễ TB), số hom ra chồi, số chồi trung bình/hom, chiều dài chồi trung bình (cm), chỉ số ra chồi (Số chồi TB/hom × Chiều dài chồi TB).
  • Dữ liệu được tính toán các tham số thống kê cơ bản trên phần mềm Microsoft Excel và xử lý phân tích phương sai một nhân tố (One-way ANOVA), kiểm định so sánh phân hạng trung bình Ducan (Duncan test) ở mức ý nghĩa p < 0,05 trên phần mềm SPSS.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật vị trí của cây Phay trong cơ cấu cây trồng lâm nghiệp lấy gỗ lớn theo chủ trương của ngành lâm nghiệp, đồng thời chỉ rõ sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn giống chất lượng cao từ tự nhiên. Nội dung phần này thiết lập cơ sở thực tiễn của đề tài, xác định rõ ràng mục đích, mục tiêu và ý nghĩa khoa học đối với việc hoàn thiện kỹ thuật gieo ươm cây rừng bản địa.

Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng kết có hệ thống cơ sở giải phẫu, tế bào học và sinh lý học của hiện tượng sinh rễ, sinh chồi bất định ở cành giâm; phân tích tác động tương hỗ giữa các nhân tố nội tại (tuổi cây mẹ, trạng thái hóa gỗ của cành, vị trí lấy hom, diện tích bề mặt lá, hàm lượng auxin và chất ức chế) với các nhân tố ngoại cảnh (thời vụ, nhiệt độ môi trường, ẩm độ không khí, ánh sáng tán xạ, bản chất giá thể và hóa chất kích thích sinh trưởng). Bên cạnh đó, tác giả tổng thuật lịch sử ứng dụng phương pháp giâm hom trên thế giới từ thế kỷ XIX đối với Thông đen, Bạch đàn ở Pháp, các loài cây họ Dầu ở Đông Nam Á (Thái Lan, Malaysia, Indonesia); điểm lại các công trình nghiên cứu nhân giống hom tại Việt Nam từ năm 1976 tại Phù Ninh đến các nghiên cứu trên Bạch đàn, Keo lai, Mỡ, Pơ mu, Thông đỏ của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Phần tổng quan kết thúc bằng việc mô tả chi tiết hình thái thực vật của loài Phay và đặc điểm điều kiện tự nhiên, khí hậu của vườn ươm Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng khảo nghiệm là hom cành cây Phay 1 tuổi; địa điểm thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc; quy mô và sơ đồ bố trí thí nghiệm thời vụ cùng thí nghiệm 3 công thức loại hom theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD). Mô tả chuẩn hóa các thao tác kỹ thuật ngoại nghiệp từ khâu thu hái, cắt vát hom 45 độ, khử trùng bằng KMnO4 và Viben C50, nồng độ xử lý IBA 750 ppm, kỹ thuật đóng luống cát sạch dày 25 cm, che vòm nilon đến chế độ phun sương điều tiết ẩm độ. Thiết lập các công thức toán học đo đạc chỉ tiêu sống, chỉ số ra rễ, chỉ số ra chồi và quy trình phân tích phương sai ANOVA một nhân tố cùng tiêu chuẩn Duncan trên phần mềm SPSS.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả

Phân tích có đối chứng các dữ liệu thu thập sau 60 ngày theo dõi:

  • Về ảnh hưởng của thời vụ: Vụ Xuân thể hiện tính ưu việt rõ rệt so với vụ Đông trên toàn bộ các chỉ tiêu. Tỷ lệ hom sống vụ Xuân đạt 83,33%, tỷ lệ ra rễ đạt 83,33%, số rễ bình quân đạt 18,56 rễ/hom, chiều dài rễ bình quân đạt 4,96 cm và chỉ số ra rễ đạt 92,03. Trong khi đó, vụ Đông chỉ đạt tỷ lệ sống 66,67%, tỷ lệ ra rễ 66,67%, số rễ bình quân 5,87 rễ/hom, chiều dài rễ 3,79 cm và chỉ số ra rễ dừng ở mức 22,20. Chỉ tiêu sinh trưởng chồi ở vụ Xuân cũng cao hơn vụ Đông về cả chiều dài chồi (5,41 cm so với 4,80 cm) và chỉ số ra chồi (6,06 so với 5,36).
  • Về ảnh hưởng của loại hom: Vị trí cắt cành tác động quyết định đến khả năng sinh sống và phát triển rễ, chồi. Công thức 1 (hom ngọn) đạt tỷ lệ sống và tỷ lệ ra rễ cao nhất là 81,11%, số rễ đạt 15,83 rễ/hom, chiều dài rễ 4,601 cm, chỉ số ra rễ đạt 72,85, chiều dài chồi đạt 6,4 cm và chỉ số ra chồi đạt 7,13. Công thức 2 (hom giữa) có tỷ lệ sống và tỷ lệ ra rễ đạt 34,44%, số rễ 5,61 rễ/hom, chỉ số ra rễ 21,86. Công thức 3 (hom gốc) cho kết quả thấp nhất với tỷ lệ sống và tỷ lệ ra rễ chỉ đạt 5,56%, số rễ bình quân 3,17 rễ/hom, chỉ số ra rễ 7,30. Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy giá trị xác suất Sig của F đều nhỏ hơn 0,05, khẳng định sai khác giữa các công thức loại hom có ý nghĩa thống kê; kiểm định Duncan xác nhận hom ngọn là công thức trội nhất.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Đúc kết các phát hiện thực nghiệm cốt lõi của khóa luận; xác nhận vụ Xuân và loại hom ngọn kết hợp chất kích thích IBA 750 ppm là giải pháp kỹ thuật tối ưu. Kiến nghị áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế sản xuất giống cây Phay và đề xuất mở rộng nghiên cứu thử nghiệm các tổ hợp nồng độ chất kích thích ra rễ khác.

Kết quả và đóng góp

Các kết quả thực nghiệm định lượng chính thu được qua 60 ngày theo dõi tại vườn ươm được tổng hợp cụ thể qua hai bảng số liệu sau:

Bảng 1: Ảnh hưởng của thời vụ đến các chỉ tiêu sinh trưởng của hom cây Phay (sau 60 ngày)

Thời vụ giâm hom Số hom thí nghiệm Tỷ lệ sống (%) Tỷ lệ ra rễ (%) Số rễ TB/hom (cái) Chiều dài rễ TB (cm) Chỉ số ra rễ Tỷ lệ ra chồi (%) Số chồi TB/hom (cái) Chiều dài chồi TB (cm) Chỉ số ra chồi
Vụ Đông 90 66,67 66,67 5,87 3,79 22,20 66,67 1,1167 4,80 5,36
Vụ Xuân 90 83,33 83,33 18,56 4,96 92,03 83,33 1,1218 5,41 6,06

Dữ liệu cho thấy giâm hom vào vụ Xuân cho tỷ lệ sống và tỷ lệ ra rễ cao hơn vụ Đông 16,66% (trong bảng 4.1 ghi chênh lệch tỷ lệ sống là 15,66%); số rễ trung bình/hom ở vụ Xuân gấp 3,16 lần vụ Đông; chỉ số ra rễ của vụ Xuân cao gấp 4,15 lần vụ Đông (92,03 so với 22,20).

Bảng 2: Ảnh hưởng của loại hom đến các chỉ tiêu sinh trưởng của hom cây Phay (sau 60 ngày)

Công thức thí nghiệm Số hom thí nghiệm Tỷ lệ sống (%) Tỷ lệ ra rễ (%) Số rễ TB/hom (cái) Chiều dài rễ TB (cm) Chỉ số ra rễ Tỷ lệ ra chồi (%) Số chồi TB/hom (cái) Chiều dài chồi TB (cm) Chỉ số ra chồi
CT1 (Hom ngọn) 90 81,11 81,11 15,83 4,601 72,85 81,11 1,1 6,4 7,13
CT2 (Hom giữa) 90 34,44 34,44 5,61 3,901 21,86 34,44 1,4 4,8 6,71
CT3 (Hom gốc) 90 5,56 5,56 3,17 2,019 7,30 5,56 1,0 3,2 3,17

Phân tích phương sai một nhân tố (One-way ANOVA) đối với tỷ lệ ra rễ và chỉ số ra rễ đều cho thấy giá trị xác suất kiểm định Sig < 0,05, chứng minh sự sai khác giữa các loại hom mang ý nghĩa thống kê rõ ràng. Kiểm định Duncan khẳng định công thức hom ngọn (CT1) là công thức trội vượt bậc về tất cả các chỉ số rễ và chồi.

Các giải pháp và kiến nghị kỹ thuật do tác giả đề xuất:

  • Về thời vụ: Cần tiến hành giâm hom cây Phay vào vụ Xuân (tháng 3 đến tháng 4) nhằm tận dụng nền nhiệt độ ấm áp và độ ẩm không khí thuận lợi, giúp đẩy nhanh quá trình sinh mô sẹo và hạn chế tình trạng thối hom.
  • Về vật liệu hom: Sử dụng hom ngọn từ cành 1 tuổi ở trạng thái bánh tẻ, cắt dài 4 - 5 cm, cắt vát 45 độ; tuyệt đối tránh dùng hom gốc do tỷ lệ hóa gỗ cao, khả năng phát sinh rễ rất kém (chỉ đạt 5,56%).
  • Về quy trình xử lý: Kết hợp ngâm khử trùng bằng thuốc tím KMnO4 0,3% (hoặc Viben C50 0,3%) trong 30 phút, chấm gốc hom bằng chất kích thích IBA nồng độ 750 ppm, cắm trên giá thể cát sạch thoát nước dày 25 cm, duy trì chế độ phun sương định kỳ (1 giờ/lần trong 4 tuần đầu) dưới vòm che nilon và lưới đen tán xạ 50% ánh sáng.

Đóng góp của khóa luận:

  • Cung cấp dẫn liệu khoa học thực nghiệm đầu tiên về kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom cho loài cây Phay (Duabanga grandiflora) tại Việt Nam.
  • Xác lập được các thông số kỹ thuật chuẩn hóa về thời vụ (vụ Xuân) và vị trí cắt hom (hom ngọn) nhằm đạt tỷ lệ sống và tỷ lệ ra rễ vượt trên 80%, làm cơ sở thực tiễn phục vụ công tác sản xuất cây giống lâm nghiệp quy mô đại trà.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn dựa trên nội dung và phạm vi nghiên cứu thực tế:

  • Phạm vi thời vụ nghiên cứu mới chỉ khảo sát tại hai mốc thời gian đại diện là vụ Đông (tháng 11 - 12) và vụ Xuân (tháng 3 - 4), chưa đánh giá liên tục các tháng khác trong năm như mùa mưa (tháng 5 đến tháng 8) hay mùa thu.
  • Thí nghiệm loại hom mới chỉ khảo sát cố định tại một nồng độ thuốc kích thích IBA (750 ppm) và một loại giá thể duy nhất là cát sạch; chưa tiến hành khảo nghiệm đa dạng các dải nồng độ IBA khác nhau, chưa so sánh với các loại chất điều hòa sinh trưởng khác như NAA, IAA hay các công thức hỗn hợp giá thể ruột bầu (cát phối trộn mùn cưa, xơ dừa, than trấu).
  • Thời gian theo dõi dừng lại ở mốc 60 ngày tại vườn ươm, chưa theo dõi quá trình sinh trưởng sau khi ra ngôi đóng bầu đất và tỷ lệ sống của cây hom ngoài hiện trường rừng trồng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất:

  • Tiếp tục mở rộng nghiên cứu giâm hom cây Phay ở các thời vụ khác trong năm để tìm hiểu toàn diện biên độ sinh thái nhân giống của loài.
  • Khảo nghiệm thêm ảnh hưởng của các nồng độ chất kích thích ra rễ IBA khác nhau, hoặc nghiên cứu phối hợp giữa các chất kích thích và các dạng giá thể giâm hom khác nhau nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng bộ rễ cây con.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị ứng dụng cụ thể cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Công nghệ sinh học thực vật và Nông học tham khảo về phương pháp luận thiết kế thí nghiệm nhân giống cây rừng bản địa.
  • Cán bộ kỹ thuật, kỹ sư tại các vườn ươm lâm nghiệp, trạm giống cây trồng và ban quản lý rừng phòng hộ trong việc xây dựng quy trình gieo ươm cây Phay phục vụ trồng rừng gỗ lớn.
  • Các nội dung đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm: quy trình kỹ thuật chuẩn bị cành hom, thao tác khử trùng và xử lý chất kích thích sinh trưởng IBA 750 ppm; phương pháp bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) và cách thức vận dụng phần mềm SPSS để thực hiện phân tích ANOVA một nhân tố cùng phép thử Duncan trên các số liệu thực nghiệm lâm nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong các vị trí cành khảo nghiệm, loại hom nào cho khả năng hình thành cây hom Phay tốt nhất?
Công thức 1 (hom ngọn) cho kết quả tốt nhất trên tất cả các chỉ tiêu sau 60 ngày giâm: tỷ lệ sống đạt 81,11%, tỷ lệ ra rễ đạt 81,11%, số rễ trung bình đạt 15,83 cái/hom, chiều dài rễ trung bình đạt 4,601 cm và chỉ số ra rễ đạt 72,85. Ngược lại, hom gốc chỉ đạt tỷ lệ sống và ra rễ 5,56%, chỉ số ra rễ là 7,30.

2. Sự chênh lệch về chất lượng bộ rễ giữa vụ Xuân và vụ Đông thể hiện qua những số liệu cụ thể nào?
Vụ Xuân vượt trội hơn vụ Đông ở tất cả các chỉ số ra rễ sau 60 ngày: tỷ lệ ra rễ đạt 83,33% (vụ Đông là 66,67%); số rễ trung bình/hom đạt 18,56 cái (cao gấp 3,16 lần vụ Đông với 5,87 cái); chiều dài rễ trung bình đạt 4,96 cm (vụ Đông là 3,79 cm); chỉ số ra rễ trung bình đạt 92,03 (cao gấp 4,15 lần vụ Đông với 22,20).

3. Khóa luận sử dụng loại hóa chất khử trùng và chất kích thích sinh trưởng nào, với nồng độ bao nhiêu?
Hom cây Phay được khử trùng nấm bằng dung dịch thuốc tím (KMnO4) nồng độ 0,3% ngâm trong 30 phút hoặc dung dịch Viben C50 nồng độ 0,3% (3 g/lít nước). Chất kích thích ra rễ được sử dụng là Axit Indolbutyric (IBA) ở nồng độ 750 ppm pha theo nguyên tắc loãng dần từ dung dịch mẹ, xử lý bằng cách chấm nhanh phần gốc hom trước khi cắm vào giá thể.

4. Kỹ thuật tạo lập giá thể và chế độ tưới phun sương cho luống giâm hom được văn bản mô tả như thế nào?
Giá thể sử dụng là cát sạch đổ vào luống với độ dày 25 cm, xử lý bằng thuốc tím KMnO4 0,3% trước khi cắm hom 12 giờ rồi tưới lại bằng nước sạch. Luống giâm được che vòm kín bằng nilon và lưới đen cản 50% ánh sáng. Trong 4 tuần đầu sau khi giâm, tiến hành phun sương mù đều đặn 1 lần/giờ; những ngày tiếp theo điều chỉnh giảm xuống 6 lần/ngày chia vào sáng và chiều.

5. Kết quả phân tích thống kê phương sai (ANOVA) và tiêu chuẩn Duncan về ảnh hưởng của loại hom cho ra kết luận gì?
Phân tích phương sai một nhân tố One-way ANOVA trên phần mềm SPSS cho thấy giá trị xác suất kiểm định Sig của F đối với tỷ lệ ra rễ và chỉ số ra rễ đều nhỏ hơn 0,05, khẳng định ảnh hưởng của loại hom có sự sai biệt mang ý nghĩa thống kê rõ rệt. Kiểm định phân hạng Duncan khẳng định công thức hom ngọn (CT1) là công thức trội nhất với tỷ lệ ra rễ 81,11% và chỉ số ra rễ 72,85.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Giang Vũ Hoàng Anh đã giải quyết thành công vấn đề thực nghiệm nhân giống sinh dưỡng loài cây Phay (Duabanga grandiflora) tại vườn ươm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu chứng minh thời vụ giâm hom vào vụ Xuân (tháng 3 - 4) và sử dụng hom ngọn cành 1 tuổi kết hợp chất kích thích IBA 750 ppm trên nền cát sạch mang lại hiệu quả cao nhất, đạt tỷ lệ sống và ra rễ trên 81%. Công trình cung cấp hệ thống dẫn liệu sinh học và kỹ thuật gieo ươm thực chứng tin cậy, đóng góp thiết thực cho công tác chọn tạo giống và phát triển rừng trồng gỗ lớn tại Việt Nam.