Chương 1 TONG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHI "Trên thé LLL Tên gọi và phân loại Họ Hoàng đàn hiện nay đang được bàn luận b các tác giả khác nhau. Một số tác giả cho rằng họ Cupressaceae bao gồm cả Taxodiaceae, một số khác cho rằng hai họ này hoàn toàn khác biệt (Nguyễn Hoàng. Ho Hoàng din (Cupressacae) là họ lớn thứ ba trong lớp Thông với tổng xố loài là 133 thuộc 30 chỉ hiện đã biết trên giới (Damon và cộng sự, 2011) [41]. Ở Việt Nam có 8 loài thuộc 7 chỉ, chỉ Cupressus có một I Cupressus tonlkinensis.
Hộ Hoàng din (Cupressaceae) bao gồm khoảng 27-30 chi (trong đó 17 chỉ chỉ có một loài) với khoảng 130-140 loài. Chúng là các loài cây thân gỗ hay cây bụi, có cơ quan sinh dục hoặc là đơn tính cùng gốc (monoecious), hoặc là đơn tính cận khác gốc (subdioecious), đôi khi là đơn tính khác gốc (dioecious), cao từ Í-16m. Vỏ cây của các cây trưởng thành nói chung có màu từ nâu đa cam tới nâu đỏ với kết cấu có thớ, thường bong ra hay dễ lột theo. chiều dọc, nhưng lại trơn, xếp vảy hoặc cứng và dễ vỡ thành miếng hình vuông.
Ở một số loài lá của chúng hoặc là mọc thành vòng xoắn ốc, theo các cặp chéo chữ thập (các cặp đối, mỗi cặp cách cặp trước 90°) hoặc thành vòng, xoắn chữ thập gồm 3 hay 4 lá, phụ thuộc vào từng chi (IUCN, 2010) [37]. Năm 1919, Philippe Eberhardt đã thu thập mẫu vật từ một cây cao. khoảng 8-10m tại Cai Kinh - Hữu Ling - Lạng Sơn, mẫu vật này được đánh số 5073 và được lưu giữ tại New York. Chevalier (1919) [48] đã định loại mẫu vật này là Cupressus funebris Endl.
Năm 1994 và 1998, Silla đã mô tả là loài mới và đặt tên là Cupressus tonkinensis. Ông ta coi mẫu vật ở New York là mẫu chuẩn (Silba, 1994, Silba, 1998). Một số tác giả khác như Farjon (1998) [50] đã xem loài Hoàng din Cupresuss tonkinensis đồng dạng với Cupresuss torulosa D. Don Thực vật chi đại cương Đông Dương, tập 5 (số ) (Lecomte, 1923) [58] đã mô tả họ Cupressaceae gồm 2 chi, 3 loài; chi Cupressus gồm 2 loài: C.
funebris, cả 2 loài đều có phân bỗ ở Việt Nam, nhưng không ghi khu vực cụ thé, Loài C. torulosa được mộ tả là: nón hạt hình cầu, màu lục, mang 6-8 vay, thường kết tụ lại, đường kính 1,5 - 2em; vảy có mũi ngắn, nhọn hoặc gan nhọn; 2 năm chin 1 lần; phân bổ ở Bắc Việt Nam; phía Hymalaya, Loài C. finebris có nón hạt mầu đô tim, mang 6 - 8 vảy, thường đơn độc, đường kính I - I,5cm; vay có mũi nhọn; 2 năm chín 1 lần; phân bổ ở Bắc Việt Nam (độ cao 1000 m), Trung và Nam Trung Quốc. Như vậy theo tài liệu nay thi loài Hoàng dan ở Hữu Liên - Lạng Sơn có nhiều khả năng là loài € fimebris hơn là loài C.
Nam 1994, Silba [44] mô tả loài Cupressus tonkinensis dựa trên mẫu thu tại Lang Sơn đã được gửi đến Paris trước đó. Trong công bồ nay thì phan mô tả hình thái rất ngắn gon và chưa được chỉ tiết. Nhưng cũng đã khẳng định. loài xuất hiện ở vang phụ cận củá Thái Nguyên, ph ty Lạng Sơn dưới tên.
torulosa chính là loài C. Như vậy đến năm. 1994 thì loài Hoàng đản ở Hữu Liên là một loài mới với tên khoa học là Cupressus tonkinensis Sifba. Tuy nhiên, sự khác nhau vỀ mặt hình thái học giữa loài Œ ronkinensis và loài tương tự không được rõ ràng.
Kết quả là C. tonkinensis thường thường bị lờ đi hoặc coi là một tên đồng nghĩa của C. torulosa, “Thực vật chí Trung Quốc tập 4 (Fu và công sự, 1999) [51] giới thiệu ho Cupressaceae trên thé giới có 125 loài thuộc 19 chỉ, chi Cupressus có khoảng 17 loài, trong đó loài C. torulosa có các tên đồng nghĩa là C.
Chúng phân bố ở các khu vực Đông và Nam Tây Tạng, Bắc An Độ, Kashmir, Nepal và đang nghỉ ngờ cũng gặp ở Bhutan, Sikkim và Việt Nam. Gần đây, năm 2003 một nhóm tác giả đã nghiên cứu sự khác nhau giữa các loi thuộc chi Cupressus ở phía Đông bán cầu dựa trên phương pháp khuếch đại ngẫu nỉ các dang DNA (Rushforth và cộng sự, 2003) [53]. Dữ liệu RAPDs đã phân tích 18 taxa phân loại thuộc chỉ Cupressus ở phía Đông bán cầu, 14 taxa đã phân biệt rõ rang, trong đó có loài C. tonkinensis của Việt Nam.
Cũng trong nghiên cứu này, một nhóm nhỏ nghiên cứu trên 3 loài C. Các dữ liệu chi ra rằng 3 loài này không có quan hệ gần gũi về mat di truyền với loài nào trong khu vực Châu A, nhưng có một vài đặc điểm giống. tonkinensis đã được coi là tên đồng nghĩa của C. torulosa nhưng những loài được phân tích đã thực sự được phân biệt rõ trong dữ liệu RAPDs.
Theo nghiên cứu này, loà iC. tonkinensis được phân biệt rõ và nó là một bậc phân loài độc lập. Loài này hoàn toàn khác biệt với C. torulosa kể cả về hình thái và di truyền.
Theo Aljos Farjon (2005) - chủ tịch nhóm chuyên gia Thông của IUCN/SSC, loài C. torulosa có các tên đồng nghĩa là C. indica Royle ex Parl; C. tongmaiensis Silba var.
karnaliensis Silla var. Chúng phân bố Himalaya: từ India đến Brahmaputra; Trung Quốc: Đông Nam Tây Tạng. Như vậy loài C. ronkinensis lại là tên đồng nghĩa của loài C.
Van đẻ về lên khoa học của Hoàng din hữu liên ngày cảng được sáng, tỏ hơn khi Damon (2006) [40] đã nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng về môi trường sống, hình thái những cây Hoàng din hữu liên (Lạng Sơn). Tác gid cho rằng loài C- tonkinensis đã được Silba mô tả là một taxon độc lập, không phải là tên đồng nghĩa của các loài C. torulosa hay của Callitropsis lusitanica, Hai loài này có thé được phân biệt bởi các lá lưỡng hình ở C. tonkinensis và không có ở €.
torulosa cũng như nhiều đặc điểm hình thái học khác. Sự khác biệt về tần số xuất hiện của tuyến nhựa hoặc. đường kính đoạn nhánh cuối của cành mang lá. Quá trình lập thang sự thay.
đổi khí hậu với nhiều nắc trong 9 tháng và sự thay đổi của 40 mẫu đất đã phân biệt rõ ràng sinh cảnh s ng tự nhiên của C. funebri Con sinh cảnh s ng của C. torulosa thì hoàn toàn riêng biệt với sinh cảnh sống của ba loài nói trên. Keith Rushforth (2007) [37] đã có những ghỉ -hếp về ho Cupressaceae ở Việt Nam.
Sự phân loại của những loài bản địa thuộc họ này của Ví được xem lại. Loài Hoàng đàn ở Lạng Son có tên khoa học là C. tonkinensis Silba, không phải là C. Nhu vậy, đến thời điểm 2007 thi loài Hoàng đàn hữu liên mọc tự nhiên và trồng tại khu BTTN Hữu Liên đã được xác định lại tên khoa học là Cupressus tonkinensis Silba.
Tuy nhiên một số đặc điểm sinh học, hình thái, sinh thái vẫn còn thiếu hoặc chưa thống nhất. Hình thái và vật hậu Trong cuốn Bách khoa toần thu, phn Lâm nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp Bắc Kinh (1989) [39] có ghi: Loài Cupressus torulosa D. Don còn được gọi là Hoàng din Tây Tang, cao 20m, thân hình trụ tròn, lá rủ ở đầu cành, lá dạng vay. Quả hình try dài 1.6em, màu nâu xám sim, có nhiều hạt nhỏ.
Trên định nón có đầu ngọn. Phân bố ở Đông Nam Tây Tạng, mọc. trên núi đá vôi và được trồng ở Vân Nam - Trung Quốc. Viện nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp khu Tự trị dân tộc Choang - Quảng Tây đã mô tả chỉ tit về chỉ Hoàng đàn và 5 loài trong chỉ này (Meng Tao và cộng sự, 2013) [44].
Chỉ Hoàng din (Cupressus Linn.) là một chỉ thuộc, họ thực vật hạt trần, những loài trong chi này thường là những cây gỗ lớn. thường xanh (dt t khi là cây bụi). Lá có dạng vay, đôi khi nhìn rõ tuyển ở mật sau lá, Nón hoa đực thuôn dài, màu vàng, có 6-12 cặp vi hạt có 2-6 noãn. Nón hoa cái gần hình cầu, có 4-8 cặp vảy hình thuẫn, phát triển thành gốc nón.
Nón quả hình cầu hoặc gần hình cầu, khi thành thục có 4-8 cặp vay, chất gỗ, hình thuẫn, giữa đỉnh của vảy có 1.đầu nhọn ngắn, khi thành thục mỗi phần c vay hạt có 5 noan trở lên. Hat hình thuôn đài hoặc hình trứng, hơi det, có góc nhọn, hai bên có v cánh. Phân bố và sinh thái “Trong tập 28 của Thực vật el í Campuchia, Lào và Việt Nam (Nguyi “Tiến Hiệp va J. Vidal, 1996) [53] đã ghi nhận loài C.
funebris phân bố ở độ cao trên 1000 m tai Đồng Văn (Hà Giang) và Na Hang (Tuyên Quang). torulosa phân bỗ ở Việt Nam: Kai Kinh, Bằng Mạc, Thượng Cường, Đồng Mỏ, Van Linh, Bắc Lệ (Lạng Sơn), Bảo Lộc (Lâm Đồng) ở độ cao 250 - 1500 m; Trung Quốc: Tây Himalaya (Nepal; An Độ). Như vậy những mẫu tiêu bản Hoàng dan thu ở Lạng Sơn đã được giám định là C. Cupressaceae là hg phân bố rộng khắp nhất trong các họ thực vật hạt trần thuộc ngành Thông, với sự phân bổ gần như toàn cầu ở mọi lục địa, ngoại trừ châu Nam Cực, kéo dai từ vĩ độ 71° bắc ở khu vực cận Bắc eye của Na Uy tới vĩ độ 55° nam ở khu vực xa nhất về phía nam của Chile , chúng có thẻ sinh.
trưởng tốt ở cao độ 5.200 m tại khu vực Tây Tạng, là cao độ lớn nhất mà người ta thông báo là không có bất kỳ loài cây có thân gỗ nào có thể sinh. Phần lớn các môi trường sinh sống trên mặt đất đều có thé có chúng, ngoại trừ các lãnh nguyên (tundra) va các rừng mưa nhiệt đới vùng đất áp (mặc đù một vài loài là thành phẫn quan trọng của các rừng mưa ôn đới và các rừng mây nhiệt đới vùng núi); chúng cũng rất hiểm xuất hiện trong cá sa mạc, Với chỉ một ú chịu đựng được các di kiện khô han khi nghiệt, ding chú ý là Cupressus dupreciana ở trung tâm khu vực Sahara, Mặc dù, có sự phân bé rộng khắp chung của toàn họ, nhưng nhiều chỉ hay loài chỉ có sự phân bổ rất hạn chế, và nhiều loài hiện đang ở tình trạng nguy cấp (IUCN, 2010) [38], Ho Hoàng đản cũng mang những đặc điểm của cây lá kim: dạng cây tháp, mọc thành rừng thuẳn loài hay là những cây vượt tán trên các cây 1á rộng khác. Tính da dang của cây lá kim (được thể hiện ở số lượng các loài) lớn hon ở Bắc bán cầu tại các vùng như Mêhicô, Tây Nam Hoa ky và Trung. Nam bán cầu có số loài it hơn.
một loạt các điểm nóng đối với sự đa dạng của cây lá kim ở Nam bán cầu như.