ĐẶT VẤN ĐỀ Ngọc Lặc và Lang Chánh là hai huyện phía Tay thuộc địa phận tỉnh Thanh Hoá với điện tích đất Lâm nghiệp chiếm 3/4 tổng điện tích đất tự nhiên. Chính nhờ điều kiện vẻ đất đai và khí hậu a tao cho ich -vực có thế mạnh về kinh tế Lâm nghiệp. "4 Những cây Lâm nghiệp được trồng và kinh.đoanh ở đây: cha yếu là các loài cây thuộc họ hoà thảo (Pociceac) phan ho Tre (Bambusoideae). Trong đó loài cây chiếm ưu thế nhất đó là cây Luồng: (Dendrocalamus menbranaceus Munro) duge tréng & nhiều dạng địa hình với diện tích lớn.
Loài cây này không những thích hợp với điều kiện tự nhiên như đất ịa hình, thời tiết,. ở đây, mà còn dễ trồng, đễ chăm sóc và có giá trị về nhiều mặt. * Về mặt kinh tế. Do có giá trị về mặt sử dụng như làm vật liệu xây dựng, dụng cụ sinh hoạt trong gia đình, nguyên liệu lầm ván nhân tạo, bột giấy và đồ gia công mỹ nghệ.
Mặt khác, thị trường tiểu thunguôn nguyên liệu này ngày càng lớn. Đặc biệt Nhà nước ta hiện nay đang tiến hành xây dựng hệ thống các nhà máy chế biến Lâm sản và nhà mấy giấy như nhà máy giấy Thiệu Lộc - Thanh Hoá, là nơi nhận tiêu thụ nguồn nguyên liệuở khu vực này trong thời gian tới. Chính vì thế mà giá trị thương mại của cây Luồng cũng được nâng lên do nhu cầu của thị trường, không những cây-Luồng có giá trị về sử dụng mà còn có giá trị về mặt thực phẩm. Bởi măng Luồng là loại thực phẩm ngon đang được ưa chuộng trong nước và quốc tế như các loại măng chua, măng ngọt, măng củ, lá măng leo;.V vậy, cây Luồng chính là cây đem lại nguồn thu nhập chính cho người da ff dầy: *\ VÀ mặt 44 hội: Luong †à loài cây rất gần gũi với người dân Việt Nam.
Bởi nó tạo ra công ăn việc làm chơ hàng chục nghìn lao động đặc biệt là những người dân tộc miền núi thuộc khu vực Bắc trung bộ. Ngoài ra cây luồng còn là nguồn cảm hứng sáng tác của các nhà thơ, nhà văn như bài thơ Tre Việt Nam, Viếng Lăng Bác, truyện Thánh gióng.Qua những tác phẩm đó thể hiện lên hình ảnh của người dân Việt Nam cần cù, sáng tạo và giản dị 2 Về tình hình kinh doanh rừng Luồng trong vài năm gần dây. Tir 1970 — 1985 Thanh Hoá có phong trào gây trồng luồng khá mạnh ở hầu hết 8 huyện miền núi (cũ). Nguồn giống chủ yếu là lấy từ gốc, chét, hom, than và cành.
Từ những năm 1990 trở lại đây việc đầu tư cho trồng luông và chăm sóc ít được quan tâm. Mặt khác việc khai thác thì vẫn tiến hành, trong quá trình khai thác vận chuyển nhiều khi không đúng quy trình kỹ thuật khai thác vượt quá lượng tăng trưởng hoặc ở những nơi có độ đốc lớii vẫn tiến hành khai thác. Từ đó dẫn đến những sản phẩm lấy ra từ khai thác đã làn? giảm sút về mặt số và chất lượng của rừng Luồng. Đó cũng là nguyên nhân lầm cho rừng Luồng giảm khả năng kháng bệnh, mất sự ổn định vẻ mặt kết cấu và các chu trình chuyển hoá về năng lượng.
Rừng Luồng hiện nay ngoài mousé/benh thường giøặp như bệnh chổi sé, Dép den. Thi hiện nay xuất hiện một bệnh mới có tính chất nguy hiểm, bệnh này do nấm gây ra. Những cây bị bệnh thì măng sinh ra thường cũng bị bệnh và làm cho bụi Luồng sinh trưởng chậm, mềm, dễ gẫy và lụi đi hàng loại. Hiện nay bệnh đã lan ra trên diện rộng gây.
thiệt hại đáng kể về nhiều mặt. Do tình hình diễn biến nghiên trọng của bệnh đựơc sự nhất trí của Khoa Quản lý TNR & MT và nhà trường tôi được nghiên cứu đề tài: Wghiên cứu vật gây bệnh đặc điểm sinh học ela vật gây bệnh sọc tím Tre, Luông tại huyện Ngọc Lặc - Thanh Hoá. > * Về mặt sinh thái: Do đặc tính sinh vật học của cây Luồng là loài cây thích hợp với những nơi đất cái Lpha, ẩm, xốp.giúp cho cây sinh trưởng nhanh. Do đó khả năng phát huy tác dụng về mặt sinh thái là rất lớn như kha năng phòng hộ bảo vệ cây nông nghiệp, hạn chế xói mòn, xạt lở đất ở ven biển ôi đúi từ đó gốp phận làm sạch nguồn nước mặt và nước ngâm.
Đồng thời lam tang nguôn nude ngdm trong khu vực có gây trồng Luồng. Rừng Luồng còn là môi U rườn ay cho các loài sinh vật như Chim, Chồn, Báo, Bồ sát. Mặt khác Lồng còn có thể trồng xen với những loài cây gỗ khác làm tăng cấu trúc và sự ổn định cho loại rừng hỗn giao này, do có sự ổn định về các chu trình chuyển hoá về chất và năng lượng. Nói chung Luồng không những có giá trị về mặt kinh tế, xã hội mà còn có giá trị lớn về mặt sinh thái Phan I TONG QUAN 2.
Lược sử nghiên cứu Bệnh cây rừng (Forest phytopathology) là hiện tượng gây bệnh trên cây gỗ hoặc lâm sản ngoài gỗ (Tre, Nứa, Luồng.) và những tổn thất củanó gây ra đã được con người ghi nhận. Ngày nay khoa học. bệnh cây hình thành và phát triển mạnh đặc biệt là cuối thể kỷ XX đâu thế kỷ XXI. F - Tình hình nghiên cứu bệnh cây rừng trên thế giới Sau khi phân tích những đặc điểm các sự kiện vẻ bệnh cây, người ta đã cho rằng bệnh cây có thể chia làm 4 thời kỳ như sau: + Thời kỳ mê tín: Từ thời cổ đại đến thế kỷ thứ XIX người ta nghĩ rằng nguyên nhân gây ra bệnh cây là do thần thánh + Thời kỳ xác nhận bản chất của vật gây bệnh: Từ đâu thế kỷ thứ XIX đến cuối thế kỷ thứ XIX các nhà khoa họcxẩê định được bệnh câylà do nấm gây ra, tiêu biểu là nhà bác học người Đức:Anton Đơbari (1831 — 1888), nhà bác học người Nga Voronin (1838 ~ 1903), Roert Haring người Đức là người sáng lập ra môn khoa hoe bénh cay th y nay.
+ Thời kỳ phát triển tương đối toàn diện: Thời kỳ này các nhà khoa học đã xác định được nguyên nhân gay ra bệnh cây không chỉ do nấm mà còn do. các loài vị rút, vịkhuẩn và đưa rã biện pháp miễn dịch, phòng trừ. + Thời kỹ cận đại từ đâu thế kỷ XX đến nay: Thời kỳ này phát triển cao độ của khoa học- bệnh cây. Các nhà khoa học đã vận dụng khoa học duy vật biện chứng Vào nghiên cứu vật gây bệnh và mối quan hệ của nó với môi trường từ đó đi ra ra những biện pháp phòng trừ khoa học trong đó phòng là chủ yếu: từ Iẩđn ti (ồng hợp và toàn diện - Tình Hình Nghiên cứu bệnh cây ở Việt Nam Từ năm 1960, khi điều tra bệnh cây rừng ở miền Nam Việt Nam, đã đề cập đến một số loại nấm hại lá.
Năm 1974, Trân Văn Mão bắt đầu công bố một số bệnh trên cây Trẩu, Quế, Sở. Tiếp đó là các nghiên cứu của một số tác giả như Nguyễn Sỹ Giao, Lê Văn Liễu, Đỗ Xuân Huy, Nguyễn Thị Kim Oanh. Còn bệnh về Luồng thì ít được nghiên cứu hơn và chỉ thực hiện chủ yếu bởi các sinh viên của Trường Đại học Lâm nghiệp như Nguyễn Bá Kiện, Nguyễn Văn Tuấn, Hoàng Thiết Lâm. Bệnh sọc tím Tre, Luồng thì cũng mới xuất hiện khoảng: 3 đến 4 năm nay và bị bệnh nặng trong khoảng 2 đến 3 năm gần đây.
Bệnh này đã được một số tổ chức, cá nhân quan tâm và tiến hành nghiên cứu như Chi Cue Kiểm lâm Thanh Hoá, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nấu” trạm Giống Ngọc Lặc Thanh Hoá, G. nhưng kết quả vẫn chưa được công bố và triển khai ngoài thực tế. Một số đặc điểm phân loại của Nấm gây bệnh Sọẽ tím Tre Luông Loại Nấm gây ra bệnh Sọc tím Tre Luồng thuộc nghành phụ Nấm Bất 'Toàn (Denteromy cotina) và chưa phát hiện giai đoạn hữu tính, nhưng hiện nay trong hệ thống Nấm Bất Toàn một số loài Nấm đã được các nhà Nấm học phát hiện được giai đoạn giới tính. Chúng có thể gọi là Nấm Túi hay Nấm Dam vì vậy loài Nấm đó được mang 2tên, một là tên của giai đoạn vô tính và tên khác là giai đoạn hữu tính.
Đặc điểm cơ bản của nghành Nấm Bất Toàn là thể sợi Nấm phát triển sinh sản Vô tính, hình thành Bào Tử phân sinh. Khi hình thành bào tử phân sĩnh, trước hết trên sợi nấm hình thành những nhánh nhỏ có hình thái đặc biệt, đó là cuống bào tử (Sporoclodium), bào tử hình thành troag cuống hoặc ngoài cuống, ở phía đỉnh hoặc phía biên. Cuống bào tử phân nhánh hoặc không phân nhánh, mọc đơn lẻ hoặc mọc thành cụm hoặc thin Làng: Những đặc trưng hình thái này của nấm bất toàn rất giống với đặc: 1rig củanấu túi ở giai đoạn vô tính. Cho nên nấm bất toàn có quan hệ thân thuộc với nấm túi, thực ra nấm này phần lớn là nấm túi.
Hệ thống phân loại của Saccardo hoàn toàn dựa vào màu sắc thể nấm cuống bào tử, hình thái bào tử và thể quả vô tính. Điều đó cũng tiện lợi tuy nhiên do phân loại dựa vào hình thái nên không tránh khỏi tính chất chủ quan. Hiện nay vẫn chưa có một hệ thống phân loại hoàn chỉnh vì vậy mà người ta vân sử dụng hệ thống phân loại của (Saccardo). Nấm bất toàn là một là một quần thể nấm lớn có khoảng 17000 loài, chúng được chia thành 3 lớp : Bào tử nấm, bào tự sợi và bào tử xoang.
Nấm bất toàn gây bệnh thì thường chỉ có 2 lớp đó là lớp bào tử sợi (Hyphomycetes) va lớp bào tử xoang (Coelomycetes). ^ Ở đây chỉ nói đến lớp bào tử sợi (Hyphomycetes). năm sấy bệnh sọc tím Tre Luông thuộc lớp này trong ngành phi it toàn. Lớp nấm bào tử sợi có cuống bào tử mọc rải rác hoặc thành Š one cây chủ, không có vỏ hoặc đĩa bào tử che trở.
Lớp này có các bộ bào tử sợi (Hyphomycetales, Hyphales, Moniliales) và bộ bào (Mycclia Sterilia). Đặc điểm vòng đời ngành nấm phụ nấm bất toàn: ˆ_' Nấm bất toàn khác so với ngành đó achua phát hiện được giai đoạn hữu tính. Nấm trải qua một thời kỳ sinh trưởng nh liệu trong điều kiện thích hợp sẽ phát triển thành bào tử vô-tính, bào tử Vô tính nảy mầm thành ống nấm và phát triển thành thể sợi nấm. Sinh sản vô tính trong quá trình phát triển thì sinh sản vô tính luôn luôn lập ại nhiều lần.
Nhưng cho đến nay trong hệ thống nấm bất toàn một số loài đã duo A nhà khoa học về nấm học phát hiện được giai đoạn hữu tí :© Phần II DAC DIEM CUA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu 1.