Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Các nghiên cứu gây trồng, phát triển cây keo Một số loài keo (Acacia spp.) đã được sử dụng rất phổ biến trong trồng rừng kinh tế tại các nước Đông Nam Á. Trong đó, bốn loài Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lá tràm (A.
auriculiformis), Keo lá liềm (A. crassicarpa) và giống lai giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm (A. auriculiformis) có tầm quan trọng đặc biệt với quy mô rừng rồng rất lớn. Tổng diện tích rừng trồng các loài keo ở vùng Đông Nam Á đạt khoảng 4 triệu ha, trong đó tập trung chủ yếu ở Indonesia, Malaysia và Việt Nam.
Trong đó số đó, diện tích keo lai và keo tai tượng chiếm trên 70% (Griffin, 2012; Harwood và Nambiar, 2014). Gỗ từ rừng trồng keo phần lớn được dùng để sản xuất bột giấy, dăm và ván bóc với chu kỳ 5 - 8 năm. Ngoài ra, gỗ keo còn được dùng để đóng đồ nội thất nhằm thay thế gỗ từ rừng tự nhiên (Harwood và Nambiar, 2014). Những cây keo lai được đầu tiên phát hiện và chọn lọc vào những năm 1970 ở Malaysia (Pinso và Nasi, 1992).
Những cây keo lai tự nhiên thường có sinh trưởng vượt trội với hình thân thẳng hơn, cành nhỏ và thân tròn hơn keo tai tượng, ngoài ra khối lượng riêng gỗ và một số tính chất gỗ của keo lai cũng tốt hơn keo tai tượng cùng tuổi (Rufelds, 1988). Các cá thể keo lai tự nhiên cũng đã được ghi nhận ở một số nơi khác tại các tỉnh Sabah (Rufelds, 1988) và Ulu Kukut (Darus và Rasip, 1989) của Malaysia. Chúng cũng xuất hiện tại vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea (Gun et al. Keo lai còn được tìm thấy trong quần thể cây giống keo tai tượng tại Trạm nghiên cứu Jon - Pu của Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Đài Loan.
Lô cây giống này đã được gieo ươm từ hạt giống keo tai tượng nhập từ Malaysia (Kiang, 1988). Ngoài ra keo lai cũng 4 được ghi nhận ở khu rừng trồng keo tai tượng tại Quảng Châu, Trung Quốc (dẫn từ Lê Đình Khả, 1999). Các nghiên cứu về sâu hại cây keo Các nghiên cứu điều tra đã ghi nhận các loài sâu hại chính trên cây keo tai tượng gồm sâu hại rễ Coptotermes cutvigrathes, sâu túi Pteroma plagiophleps, mọt đục thân Xylosandus sp., Xylosandrus fornicatus, xén tóc Xytrocera festiva. Đây là các loài sâu gây hại nghiêm trọng và rất khó kiểm soát, loài nguy hiểm nhất là loài Pteroma plagiophleps vì chúng được bảo vệ bởi túi bên ngoài và có khả năng thích nghi tốt với điều kiện bất lợi ở bên ngoài (Creffield, 1996; Peter et al.
Ở Indonesia đã ghi nhận hai trận dịch sâu hại lớn trên cây keo do hai loài sâu kèn Eumeta variegata và E. Chúng đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho hơn 800 ha rừng. Tại các diện tích rừng trồng tập trung ở Kalimanta với 42 loài cây trồng, trong đó có 28 loài keo với diện tích trên 500. Ở rừng keo đã phát hiện 8 loài côn trùng gây hại, một trong số các loài côn trùng này có loài quan trọng nhất là loài mối Coptotermes cutvigrathes, chúng hại rễ và làm chết cây từ 10-50% cây trồng ở giai đoạn một năm tuổi tại đảo Sumatra (Wylie et al.
Một trường hợp khác ở phía Bắc Sumatra có khoảng 1.000 ha keo đã bị gây hại nặng bởi loài sâu ăn lá Aichaea janata. Sau đó đã xuất hiện 3 loài Agrilus kalshoveni, Hypipfla robusta và Xystrocera festiva gây hại cây keo ở trên đảo Java. Năm 1999 loài Coptotermes curvignathus đã phát dịch và gây hại rừng trồng Keo tai tượng, làm suy giảm khoảng 15% sản lượng gỗ so với trước khi phát dịch. Nghiên cứu tại Ấn Độ đã ghi nhận 58 loài sâu hại keo, trong đó bộ cánh cứng Coleoptera có 5 loài, bộ cánh đều Isoptera có 5 loài, bộ cánh nửa Hemiptera có 15 loài, bộ cánh thắng Orthoptera có 4 loài, bộ cánh vẩy Lepidoptera có 15 loài.
Trong số này đã ghi nhận 6 loài gây hại nghiêm trọng gồm: Celosterma scabrator, Eumera cramerii, Ophiusa lanata, loài 5 Oxyrachis tarandus, Caryedon serratus, và Batocera ryffomculata (Sigh, 1987). Kết quả điều tra đã thống kê được 20 loài sâu hại keo tai tượng ở một số nước, chủ yếu thuộc nhóm sâu hại rễ, hại thân và ăn lá. Loài mối đất (Coptotemes curvignathus) gây hại khá phổ biến ở Indonesia, Malaysia và Thái Lan, và một số loài mối thường gây hại cây keo ở Malaysia. Nhóm loài ăn lá cây gồm loài Archips micacaena gây hại cây keo ở Thái Lan; loài Sâu túi (Pteroma glagiophleps) gây hại cây keo ở Indonesia, Malaysia, Ấn Độ và Philippines; loài ngài độc (Dasychira mendosa), loài bướm vàng (Eurema spp.), Sâu da láng (Spodoptera litura), loài câu cấu xanh (Hypomeces squamosus) và châu chấu (Valanga nigricornis) đã được ghi nhận có gây hại các loài keo ở Malaysia, Thái Lan và Ấn Độ (Wylie, 1998).
nigricornis) cũng đã được ghi nhận có gây hại phổ biến trên rừng trồng các loài keo ở Malaysia, Indonesia và Úc (Hutacharern, 1993). Nghiên cứu của Martin và Wylie (2001) đã thống kê được các loài côn trùng gây hại chính đối với cây keo ở vùng nhiệt đới. Nghiên cứu đã xác định được 26 loài, trong đó sâu ăn lá có 10 loài (Paropsis sp., Gonipterus scutellatus, Hypomeces squamosus, Myllocerus sp., Spodoptera litura, Eurema sp. và Pteroma plagiophleps), sâu chích hút có 1 loài (Ceroplastes sp.), sâu hại vỏ 2 loài (Penthea pardalis và Indarbela quadrinnotata), sâu đục thân có 9 loài (Xystrocera globoca, Anoplophora sp., Celosterna scabrator, Apate sp.
và Odontotermes spp.), sâu đục quả có 2 loài (Bruchidius spp. và Dioryctria spp.) và sâu hại rễ có 2 loài (Lepidiota spp. và Coptotermes spp. Một nghiên cứu khác cho thấy thành phần các loài sâu hại chính trên cây keo ở Úc là các loài sâu ăn lá Ochrogaster lunifer, sâu đục thân Penthea pardalis, xén tóc Platyomopsis sp., sâu đục ngọn Cryptophlebia sp.
Thành 6 phần các loài sâu hại chính trên cây keo ở Indonesia bao gồm mối Coptotermes curvignathuc, mọt đục thân Xylosandrus spp., sâu kèn Pteroma plagiophleps, châu chấu V. nigricornis Burmeister và châu chấu Locusta sp., bọ xít muỗi Helopeltis theivora. Thành phần các loài sâu hại chính trên cây keo ở Malaysia bao gồm mối C. curvignathuc, mối Microcerotermes dubius, mối Nasutitermes matangensis, mọt đục thân X.
crassiuschulus, sâu ăn lá Eurema spp., xén tóc Xystrocera globosa, mọt Platypus pseudocupulatus. Thành phần các loài sâu hại chính trên cây keo ở Thái Lan bao gồm mọt Sinoxylon spp., sâu hại vỏ Indarbela sp., sâu đục thân Zeuzera coffeae (Wylie et al. Kết quả điều tra sâu hại trên cây keo ở Hong Kong từ năm 1994 đến 2003 đã phát hiện được hai loài sâu ăn lá Phalera grotei và P. Chúng xuất hiện và gây hại tập trung vào tháng 8/1999, 4-8/2001, và 6-7/2002 (Kendrick, 2004).
Các loài gây hại chính trên keo tai tượng là Ochrogaster lunifer và Crytophlebia sp. Mọt đục thân Euwallacea fornicatus đã được xác định là sâu hại chính trên nhiều loài cây trồng trên thế giới. Chúng gây thiệt hại nghiêm trọng đối với các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, đặc biệt là trên cây Bơ ở Mỹ và trên rừng keo ở Đông Nam Á (Kasson, 2013). fornicatus trưởng thành (con cái) mang theo bào tử nấm Fusarium ở gốc râu đầu và miệng (Parthiban and Muraleedharan, 1996).
Trong quá trình trưởng thành cái đào hang, bào tử nấm được nhiễm vào gỗ ở nơi chúng đẻ trứng, sau đó nấm sinh trưởng và lan rộng ra xung quanh, sâu non sẽ sử dụng nấm này làm thức ăn và chúng có thể 7 là véc tơ (sinh vật trung gian truyền bệnh) truyền nấm gây bệnh chết héo (Nkuekam et al. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mọt E. fornicatus gây hại trên nhiều loài cây chủ khác nhau như cây phong bạc, cây thầu dầu, các loài cây thuộc họ dẻ (Parthiban và Muranleedharan, 2012; Donald et al., 2012); chúng gây hại nghiêm trọng trên cây chè ở Ấn Độ; gây hại rất nghiêm trọng trên các vườn bơ ở Mỹ. Theo thống kê đến năm 2010, đã có 54 loài mọt thuộc giống Xylosandrus được ghi nhận.
Chúng gây hại trên nhiều loài cây chủ như xoài. các loài cây thuộc họ đậu và đặc biệt là các loài keo (Dole et al., 2010; Kumar et al., 2011; Freeman et al. Các nghiên cứu về quản lý sâu hại cây keo Các nghiên cứu quản lý các loài mối thuộc giống Coptotermes hại keo đã xác định các biện pháp phòng chống mối bao gồm các bước như xử lý đất trước khi trồng cây, rải hóa chất làm hàng rào ngăn mối hay sử dụng các bẫy hóa học để nhử mối (Nan và Rudolf, 2000). Loài sâu hại Ochrogaster lunifer, con trưởng thành và sâu non được bảo vệ bởi lông làm ngứa, lông dài, rậm và dày đặc; các sâu non được bảo vệ thêm bởi túi lụa để trú ẩn, chúng không có nhiều thiên địch.
Tuy nhiên, các nhà khoa học phát hiện ra rằng loài ký sinh của loài sâu này là ruồi. Nhìn chung, các nghiên cứu đã xác định được các loài sâu hại chính đối với rừng trồng các loài keo trên thế giới, trong đó các loài côn trùng gây hại nguy hiểm nhất là các loài sâu ăn lá và các loài mọt đục thân. Hiện nay, các nước đang kinh doanh rừng trồng keo rất quan tâm đến mọt đục thân, chúng là nguyên nhân chính gây chết rừng trồng keo. Mặc dù đã có một số biện pháp phòng trừ sâu hại keo nhưng chưa có đem lại quả cao và đến nay vẫn chưa có một giải pháp chính thức nào được công bố và chưa được khuyến cáo trong sản xuất.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 1. Các nghiên cứu gây trồng, phát triển cây keo Ở Việt Nam, các nghiên cứu chọn lọc các nguồn giống keo lai tự nhiên trong những năm 1990 đã chọn và nhân giống được một số giống ưu việt, qua đó góp phần làm tăng đáng kể năng suất rừng trồng (Lê Đình Khả et al. Kết quả khảo nghiệm tại các vùng sinh thái chính của Việt Nam cho thấy những dòng keo lai có sinh trưởng đường kính vượt trội so với keo tai tượng 30 - 149% (tại Ba Vì) và 25 - 108% (tại Đông Nam Bộ), có chiều cao vượt keo tai tượng 29 - 126% tại Ba Vì và 12 - 82% tại Đông Nam Bộ, riêng các dòng keo lai ưu việt có thể tích thân cây vượt trội, đạt 161 - 204 dm3/cây, cao gấp 1,6 - 4 lần so với bố mẹ khi được trồng theo đám. Ở những lập địa tốt, cây keo lai sinh trưởng tốt hơn rõ rệt so với những nơi đất xấu và khô hạn.
Những nơi có lập địa tốt như ở Hàm Yên - Tuyên Quang, Long Thành - Đồng Nai, Ba Tơ - Quảng Ngãi, cây keo lai sinh trưởng rất nhanh, năng suất có thể đạt 19 - 27 m3/ha/năm (Lê Đình Khả et al.