CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu về loài Keo trên thế giới và Việt Nam 1. Những nghiên cứu về các loài Keo lai trên thế giới Nghiên cứu về cây Keo lai có nhiều tác giả trên thế giới đề cập đến, nổi bật với một số nhà nghiên cứu như: Razali, A., (1992), cho rằng: Cây keo phần lớn có nguồn gốc ở Australia, các vùng nhiệt đới hay ôn đới ấm loại cây này xuất hiện nhiều. Một số khu vực phổ biến trên thế giới có nhiều loại cây gỗ này bao gồm châu Phi, châu Mỹ và miền nam châu Á.
Tại Việt Nam, keo được trồng nhiều tại khu vực khô và có vùng diện tích rừng, đồi lớn. Năm 1986, trên đảo Hải Nam - Trung quốc, một khảo nghiệm với 20 xuất xứ của 8 loài keo đã được tiến hành, đến tuổi thứ 2. SirilaK, (1991) có15 xuất xứ còn lại bao gồm các xuất xứ Keo lá tràm, Keo tai tượng, A. Mặc dù là Keo tai tượng không nằm trong nhóm loài và xuất dẫn đầu, nghĩa là cây hai năm tuổi tăng trưởng D <7,4 cm, H <4,7 m.
Năm 1985, 23 xuất xứ của 12 loài keo đã được khảo nghiệm tại 6 điểm ở Thái Lan. Thứ tự xếp hạng theo chiều cao của 10 xuất xứ dẫn đầu (36 tháng tuổi) trên 02 địa điểm thí nghiệm là: Tại Ratchaouri, Keo tai tượng xuất xứ 13846 đứng thứ 9 có chiều cao 7,2 m, loài dẫn đầu là Keo lá liềm xuất xứ 13653 xếp thứ 10 với chiều cao 6,8 m. Tại Saitheng, Keo tai tượng không nằm trong 10 xuất xứ dẫn đầu, tại đây loài có xuất xứ dẫn đầu đều là Keo lá liềm 13683 có chiều cao 14,8 m, loài Aulacocarpa xếp thứ 10 với chiều cao 11,3 m. SirilaK (1996), khi tiến hành khảo nghiệm xuất xứ Keo tai tượng (2,5 năm) và Keo lá liềm (2 năm) ở Riau được phân tích về đặc điểm sinh trưởng; chiều cao, đường kính và sản lượng.
Kết quả chỉ 4 ra sự khác biệt về tất cả các tính trạng của Keo tai tượng đều hơn Keo lá liềm. Xuất xứ đầy hứa hẹn cho đồn điền công nghiệp ở Riau chỉ ra hướng phát triển Keo tai tượng tốt hơn đối với Keo lá liềm. Pinso và Nasi (1991), khi đánh giá các chỉ tiêu chất lượng của cây Keo lai thấy rằng độ thẳng thân, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều của thân, vv. ở cây Keo lai đều tốt hơn hai loài keo bố mẹ và cho rằng Keo lai rất phù hợp cho trồng rừng thương mại.
Cây Keo lai còn có ưu điểm là có đỉnh ngọn sinh trưởng tốt, thân cây đơn trục và tỉa cành tự nhiên tốt. Pinso và Nasi (1991) còn cho biết thêm: Sinh trưởng của cây Keo lai tự nhiên đời F1 tốt hơn xuất xứ Sabah của Keo tai tượng, song kém hơn xuất xứ ngoại lai như Oriomo (Papua New Guinea) hoặc Claudie River (Queesland, Australia), còn sinh trưởng của những cây đời F2 trở đi thì không đồng đều so với trị số trung bình và còn kém hơn cả Keo tai tượng, mặc dầu một số cây xuất sắc có khá hơn. Năm 1992 ở Inđônêxia, bắt đầu có thí nghiệm trồng Keo lai với cây con được lai tạo bởi nuôi cấy mô phân sinh giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm. Mặc dù Keo lai trên thế giới được phát hiện rất sớm và đã được nghiên cứu phát triển trong trồng rừng, tuy nhiên những công trình nghiên cứu về Keo lai lại không quá phổ biến.
Tewari (1994), khi nghiên cứu về sinh trưởng và phát triển của một số giống keo (Acacia) trên một số loại đất đã bạc màu của Ấn Độ, tác giả đã đưa ra kết quả về tính trội chịu hạn, chứng tỏ cây Keo không kén đất, chúng có thể sống và sinh trưởng tốt, một số loài keo như: A. Tình hình nghiên cứu về trồng rừng loài Keo ở Việt Nam 1. Những nghiên cứu về trồng rừng cây Keo Ở Việt Nam, trong vài thập kỷ qua, vấn đề trồng rừng và quản lý rừng trồng rất được coi trọng, do tình trạng diện tích rừng liên tục bị thu hẹp do 5 nhiều nguyên nhân. Đặc biệt một số loài cây sinh trưởng, phát triển nhanh như: Keo, Bạch đàn, với đa dạng các giống và xuất xứ của chúng cũng được đưa vào cơ cấu cây trồng trong lâm nghiệp.
Quyết định 716/QĐ-BNN-TCLN ngày 06/3/2019 của Bộ Nông nghiệp và PTNT trong công tác trồng rừng với những dòng trước đây có nhiều giống được nhà nước thừa nhận như: Keo lai dòng BV10, BV16, BV32., Hiện nay có một số giống Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đàn lai do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam nghiên cứu chọn tạo như: Keo Lai các dòng: BV376, BV 586, BB055, BV523, BV584, BV434 và BV350; với Keo tai tượng có xuất xứ Balimo…. giống được cải thiện với việc áp dụng những tiên bộ kỹ thuật trong trồng và thâm canh rừng đóng góp vai trò đáng kể trong công tác phát triển rừng ở Việt Nam. Trần Thị Ngoại và Trần Quang Bảo (2019) nghiên cứu về sinh trưởng rừng trồng Keo lai trên những cấp đất khác nhau ở tỉnh Đồng Nai cho kết quả: Sinh trưởng ở mức quần thụ được xác định bằng cách kết hợp hàm mật độ và hàm sinh trưởng cây bình quân. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sản lượng gỗ đứng đối với rừng trồng Keo lai 10 tuổi trên ba cấp đất trung bình là 291,7 m3/ha.
Năng suất trung bình của rừng trồng Keo lai tại tuổi 10 trên cấp đất I (42,3 m3/ha/năm) cao hơn 1,6 lần và 2,5 lần tương ứng so với cấp đất II và III. Đường kính bình quân tăng từ 4,9 cm (tuổi 2) đến 16 cm (tuổi 10), so với cấp đất I (100%), giá trị này trên cấp đất II và III thấp hơn tương ứng 16,6% và 31,7%. Trị số chiều cao bình quân tăng từ tuổi 2 (6 m) đến tuổi 10 (19,3 m), so với cấp đất I (100%), giá trị này trên cấp đất II và III thấp hơn tương ứng 16,0% và 32,3%. Trong khoảng 10 năm đầu, thể tích thân cây bình quân của rừng trồng Keo lai trên cấp đất I lớn hơn cấp đất II và III tương ứng là 40,8% và 68,4%.
Trữ lượng gỗ của rừng trồng Keo lai chuyển từ giai đoạn sinh trưởng nhanh sang giai đoạn sinh trưởng chậm tại cấp tuổi 4. 6 Nguyễn Ngọc Bình, Đỗ đình Sâm (2001) Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng rừng Keo tai tượng trên các dạng lập địa và áp dụng các biện pháp kỹ thuật để trồng rừng công nghiệp tại các vùng trung tâm, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên. Nghiên cứu cho kết quả: Năng suất rừng trồng công nghiệp và lập địa gây trồng có quan hệ chặt chẽ với nhau; Tác giả đã dựa vào độ dốc, thực bì đặc thù và độ sâu tầng đất để chia dạng lập địa trồng rừng keo tai tượng ở vùng trung tâm làm 5 dạng, đánh giá sinh trưởng của keo tai tượng, 8 tuổi, mật độ trung bình 930 - 1100 cây/ha trên mỗi dạng lập địa như sau: Dạng lập địa 1: Sinh trưởng đạt 25,7 m3/ha/năm; dạng lập địa 2: Sinh trưởng 21,1 m3/ha/năm; dạng lập địa 3: Sinh trưởng 15,1 m3/ha/năm; dạng lập địa 4: Sinh trưởng 18,7 m3/ha/năm và dạng lập địa 5: Sinh trưởng 5,7 m3/ha/năm. Trong nghiên cứu của Đoàn Hải Nam (2006) khi khảo sát mô hình trồng rừng thâm canh tại một số tỉnh Thái Nguyên, Quảng Trị, Gia Lai, Bình Dương đã chỉ ra chi phí bình quân trên 1 ha trồng rừng tham canh Keo lai cao gấp đôi so với đầu tử của chương trình trồng rừng sản suất theo Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 với mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và kinh phí thực hiện Dự án 5 triệu ha rừng và gấp 1,5 lần so với phương thức trồng rừng bán thâm canh hoặc trồng.
Tuy nhiên trên thực tế trồng rừng thâm canh cho hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với các phương thức trồng khác. Nếu trồng rừng với giống cây mọc nhanh theo phương thức quảng canh thì chu kỳ thu hoạch khá dài trên 10 năm mà năng suất chỉ đạt 7 - 10 m3/ha/năm, nhưng nếu trồng rừng thâm canh thì từ 7 - 8 năm đã cho thu hoạch gỗ với năng suất đạt khoảng 25 - 30 m3/ha/năm. Điều này cho thấy vốn bỏ ra ban đầu được thu hồi sớm hơn, vòng quay ngắn hơn nên hiệu quả kinh tế vốn cũng cao hơn, thời gian thu hồi sản phẩm được rút ngắn nên đất đai được thu hồi sớm để triển khai trồng rừng vào chu kỳ sau sớm hơn (Nguyễn Huy Sơn và cộng sự, 2006). 7 Đánh giá kết quả áp dụng tiến bộ kỹ thuật để trồng rừng nguyên liệu công nghiệp và đề xuất các giải pháp ở khu vực Đông Bắc - Việt Nam.
Vùng Đông Bắc đã có nhiều thành công trong việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để trồng rừng, đặc biệt là việc lai tạo giống cây trồng, đã lai tạo thành công những loài tăng trưởng cao như cây keo lai, bạch đàn europhylla. sử dụng kỹ thuật cao trong nhân giống như: Giâm hom và nuôi cấy mô. Trồng rừng đã chú trọng vào những biện pháp kỹ thuật tiên tiến và nêu cao vai trò của tiến bộ trong quản lý bảo vệ rừng, nhất là những biện pháp sinh học, như: quản lý sâu bệnh dịch hại tổng hợp (IPM). Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề bất cập trong chương trình trồng rừng ở Tây Nguyên cần được khắc phục, như: Sử dụng giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc hoặc vẫn gieo ươm và trồng rừng bằng hạt, khi cây đó Bộ NN&PTNT yêu cầu trồng bằng cây hom, cây mô mới có hiệu quả.
Hệ thống các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng được thực hiện đồng bộ. Tỷ lệ diện tích trồng rừng 1 ha quá thấp, do vậy năng suất, chất lượng, sản lượng rừng rất thấp. Vì vậy cần sớm có các giải pháp khắc phục những tồn tại trên. Với keo tai tượng và keo lai, đạt năng suất 25 - 30 m3/ha/năm, thì 7-8 năm nữa với lãi suất vay 7%, với tỷ suất lãi nội bộ IRR có thể đạt 18-20% người trồng rừng có lãi.
Nếu trữ lượng đạt 70 m3/ha sau 8 năm, năng suất bình quân đạt gần 9 m3/ha/năm, thì với lãi suất 7 %/năm, người trồng rừng sẽ không có lãi, tỷ suất lãi nội tại IRR chỉ đạt 7,68%. Theo tính toán năng suất phải đạt 12 m3/ha/năm thì lãi nội tại IRR phải đạt 10,2%, thì trồng rừng mới có lãi. Đây là cơ sở chính để đầu tư rừng trồng nguyên liệu công nghiệp, đòi hỏi phải đạt năng suất cao mới có thể thu được lợi ích kinh tế trồng rừng khi vay vốn ngân hàng 7 %/năm để đầu tư.