Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học "Đánh giá sinh trưởng mô hình Trám đen ghép tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện bởi sinh viên Đinh Minh Hải thuộc chuyên ngành Quản lý Tài nguyên rừng, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (khóa 2012 – 2016), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Thu Hoàn và phản biện của TS. Hồ Ngọc Sơn vào tháng 6 năm 2016.

Cây Trám đen (Canarium tramdenum Dai & Yakovl) là loài cây gỗ lớn bản địa đa mục đích, cao 20–30 m, đường kính ngang ngực đạt 50–70 cm, tán rộng và xanh quanh năm. Cây phân bố tự nhiên tại vùng Đông Nam Á và mọc rộng rãi tại các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc và miền Trung Việt Nam. Bên cạnh giá trị phòng hộ, lấy gỗ và nhựa, quả Trám đen là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng (chứa canxi, vitamin C, sắt, axit hữu cơ) và có giá trị dược liệu cao, mang lại giá trị kinh tế vượt trội so với cây lúa và các loại cây ăn quả truyền thống. Tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Trám đen là đặc sản nổi tiếng nhưng chủ yếu tồn tại dưới dạng cây mọc tự nhiên rải rác trong vườn đồi, năng suất không ổn định và thời gian sinh trưởng từ hạt kéo dài 5–6 năm mới cho quả.

Nhằm cải tạo vườn tạp và nâng cao hiệu quả kinh tế, địa phương đã bước đầu đưa kỹ thuật ghép cây Trám đen vào thử nghiệm trên địa bàn xã từ tháng 1 năm 2015. Tuy nhiên, sau một năm trồng thử nghiệm, các mô hình này chưa được đo đạc, theo dõi và đánh giá định lượng về tỷ lệ sống cũng như các chỉ tiêu sinh trưởng lâm sinh. Do đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống thực tiễn này.

Mục đích nghiên cứu: Đánh giá khả năng sinh trưởng của cây Trám đen ghép tại 2 mô hình ở xã Hà Châu, huyện Phú Bình, từ đó làm cơ sở khoa học đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp.

Mục tiêu nghiên cứu (đánh số theo văn bản):

  1. Xác định tỷ lệ sống cây ghép sau trồng.
  2. Đánh giá tình hình sinh trưởng, phát triển của các mầm ghép Trám đen.
  3. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây Trám đen ghép sinh trưởng trong mô hình cải tạo vườn tạp.
  • Phạm vi không gian: Xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên (tập trung tại 2 mô hình vườn hộ gia đình ông Nguyễn Văn Tụ và cô Trương Thị Thúy).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu ngoại nghiệp từ tháng 12/2015 đến tháng 5/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên cơ sở phân loại học thực vật và lý luận lâm sinh học về quy luật sinh trưởng cá thể cây rừng:

  • Cơ sở sinh học và phân loại: Cây Trám đen thuộc chi Canarium, họ Trám (Burseraceae), bộ Cam (Rutales). Tên khoa học xác lập bởi Trần Định Đại và Yakovlev (1985) là Canarium tramdenum Dai & Yakovl (đồng danh Pimela nigra Lour., Canarium nigrum Engler, Canarium pimela Leenh.). Về sinh thái, loài ưa đất sét hoặc sét pha sâu ẩm, thoát nước, pH 4,5–5,5; nhiệt độ trung bình năm 21–25°C, lượng mưa 1.500–2.000 mm; là cây ưa sáng khi trưởng thành nhưng hơi chịu bóng giai đoạn 1–3 tuổi; cây ghép có ưu thế rút ngắn chu kỳ kinh doanh xuống còn 2–3 năm là bắt đầu cho hoa.
  • Cơ sở khoa học về sinh trưởng: Áp dụng lý thuyết sản lượng rừng của Vũ Tiến Hinh (1997), định nghĩa sinh trưởng là sự tích lũy sinh khối và tăng kích thước hình thái theo thời gian qua các chỉ tiêu chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), đường kính tán ($D_t$) và sinh trưởng chồi mầm ghép ($H_{mầm}$).
  • Kế thừa nghiên cứu chuyên ngành: Tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu ghép cây Trám của Phạm Đình Tam (2004), Trần Đức Mạnh (2004–2007), Đỗ Duy Khôi (2005), Ong Thế Quảng (2006), Lương Thị Anh (2008, 2010), Nguyễn Thị Thu Hoàn (2005, 2006, 2007) và số liệu điều tra mô hình năm 2015 của Lâm Văn Sáng (2015).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp thu thập số liệu thực địa: Tiến hành điều tra toàn diện 100% số cây trong 2 mô hình theo chu kỳ 3 đợt đo định kỳ bắt đầu từ ngày 12/2/2016, mỗi đợt cách nhau đúng 45 ngày. Các chỉ tiêu đo đạc gồm:
    • Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$): Đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng cao nhất bằng thước dây, độ chính xác đến 10 cm.
    • Chiều cao mầm ghép ($H_{mầm}$): Đo từ vết ghép đến đỉnh chồi ghép bằng thước dây, độ chính xác đến 10 cm.
    • Đường kính tán ($D_t$): Đo theo hai hướng vuông góc Đông – Tây ($D_{tĐT}$) và Nam – Bắc ($D_{tNB}$), độ chính xác đến 10 cm. Giá trị trung bình tính theo công thức: $$D_t = \frac{D_{tĐT} + D_{tNB}}{2}$$
    • Phân loại phẩm chất cây theo 3 cấp:
      • Cây tốt: Thân to, cao, cân đối, thẳng đẹp, không bị sâu bệnh.
      • Cây trung bình: Thân to, cao nhưng không cân đối, cong queo, sâu bệnh ít.
      • Cây xấu: Còi cọc, cong queo, sâu bệnh nhiều.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu ngoại nghiệp được tổng hợp, xử lý thống kê mô tả (tính số trung bình, tỷ lệ phần trăm) bằng máy tính cá nhân.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu gốc điều tra thực địa 2016, số liệu gốc đợt trồng năm 2015 từ khóa luận của Lâm Văn Sáng, và tài liệu thống kê điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội do UBND xã Hà Châu cung cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật tầm quan trọng của rừng và các loài lâm đặc sản bản địa trong chiến lược phục hồi tài nguyên và phát triển kinh tế nông thôn. Trình bày tổng quan về tiềm năng kinh tế vượt trội của cây Trám đen tại xã Hà Châu, đồng thời chỉ ra thực trạng sản xuất: người dân chủ yếu khai thác các cá thể mọc tự nhiên, chưa có quy trình nhân giống chuẩn hóa dẫn đến tỷ lệ phân ly tính trạng cao, cây trồng bằng hạt lâu ra quả (5–6 năm). Đề tài xác định rõ mục đích, 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa học tập, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn trong công tác khuyến nông, khuyến lâm tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng hợp toàn diện các tài liệu khoa học về cây Trám đen trong và ngoài nước:

  • Sinh học loài: Mô tả chi tiết phân loại học, hình thái thân gỗ lớn cao 25–30 m, đường kính 60–90 cm, lá kép lông chim 1 lần lẻ, hoa viên chùy, quả hạch hình trứng dài 3,5–4,5 cm chứa nhân 3 ô nhiều dầu, nhựa thơm màu đen sẫm.
  • Nghiên cứu quốc tế: Chi Canarium gồm 75 loài phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi, châu Đại Dương. Tại Trung Quốc, hai loài có giá trị kinh tế lớn là Trám trắng (C. album) và Trám đen (C. tramdenum), từng ghi nhận cá thể cho năng suất 200–400 kg quả; các nghiên cứu đã phân lập sâu hại chính là xén tóc Anoplophora chinensis.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Các nghiên cứu của Phạm Đình Tam và Trần Đức Mạnh khẳng định kỹ thuật ghép áp và ghép nêm vào vụ xuân (tháng 3–4) và vụ thu (tháng 9–10) cho tỷ lệ sống đạt trên 70–86%. Cây ghép rút ngắn thời gian ra quả xuống còn 2–3 năm.
  • Điều kiện tự nhiên, tài nguyên xã Hà Châu: Xã có diện tích tự nhiên 529,05 ha (đất nông nghiệp 386,54 ha), dân số 1.090 hộ/3.048 lao động (lao động nông nghiệp chiếm 68,9%). Địa hình vùng đồi bát úp ven sông Cầu cao trung bình 20–30 m, bức xạ dồi dào, thuận lợi phát triển mô hình kinh tế vườn đồi, song đất dốc dễ bị rửa trôi, hệ thống thủy lợi cuối kênh Hồ Núi Cốc thường gặp ngập úng vào mùa mưa.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng là quần thể cây Trám đen ghép tại xã Hà Châu trong khoảng thời gian từ tháng 12/2015 đến tháng 5/2016. Quy định rõ ràng quy trình đo đạc 3 chỉ tiêu sinh trưởng hình thái ($H_{vn}$, $H_{mầm}$, $D_t$), quy tắc xác định đường kính tán trung bình qua 2 hướng Đông – Tây và Nam – Bắc, tiêu chí phân cấp phẩm chất cây (Tốt, Trung bình, Xấu), phương pháp kế thừa số liệu năm 2015 và các thuật toán tính toán thống kê mô tả.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Trình bày chi tiết dữ liệu thực nghiệm tại 2 mô hình vườn hộ:

  • Khái quát mô hình: Cả hai mô hình trồng vào tháng 1/2015 theo quy cách cự ly cây cách cây 6 m, hàng cách hàng 8 m, sử dụng mắt ghép lấy từ cây mẹ ưu thế tại địa phương ghép nêm và ghép áp, bón phân NPK định kỳ 2 lần/năm (0,2–0,3 kg/cây/lần):
    • Mô hình 1 (ông Nguyễn Văn Tụ): Vườn rộng 1 ha; diện tích trồng trám ghép 2.500 m² với 43 cây ban đầu (30 cây trồng xen trám hạt và dứa, lạc, đỗ, chuối; 13 cây ghép cải tạo trực tiếp tại gốc trám hạt).
    • Mô hình 2 (cô Trương Thị Thúy): Vườn rộng 8.600 m²; diện tích trồng trám ghép 1.100 m² với 23 cây trồng xen cây ăn quả và hoa màu (cam, chuối, sắn).
  • Tỷ lệ sống và phẩm chất cây: Mô hình 1 đạt tỷ lệ sống 76,74% (33 cây sống, 10 cây chết); Mô hình 2 đạt 69,57% (16 cây sống, 7 cây chết). Về phẩm chất: Mô hình 1 có 21 cây loại tốt (63,64%), 9 cây trung bình (27,27%), 3 cây xấu (9,09%); Mô hình 2 có 9 cây tốt (56,25%), 4 cây trung bình (25,00%), 3 cây xấu (18,75%).
  • Động thái sinh trưởng qua 3 kỳ đo (cách nhau 45 ngày):
    • Mô hình 1: $H_{vn}$ tăng từ 92,45 cm lên 102,24 cm (tăng 9,79 cm); $H_{mầm}$ tăng từ 57,79 cm lên 67,52 cm (tăng 9,73 cm); $D_t$ tăng từ 94,09 cm lên 98,65 cm (tăng 4,56 cm).
    • Mô hình 2: $H_{vn}$ tăng từ 70,63 cm lên 79,31 cm (tăng 8,68 cm); $H_{mầm}$ tăng từ 46,50 cm lên 54,81 cm (tăng 8,31 cm); $D_t$ tăng từ 72,19 cm lên 77,41 cm (tăng 5,22 cm).
  • Sự phát triển và tình hình sâu bệnh hại: Tại Mô hình 1, có 2 cây (cây số 12 và cây số 23) đã phân hóa mầm hoa sau 1 năm trồng; Mô hình 2 chưa xuất hiện cây ra hoa. Mùa đông lạnh và mưa phùn kéo dài làm cây bị thối ngọn, cháy lá; mùa hè nắng nóng gây khô héo mầm non; xuất hiện rệp chích hút nhựa làm ngọn biến dạng, còi cọc.
  • So sánh tăng trưởng sau 1 năm (Mô hình 1): So sánh giữa tháng 5/2015 và tháng 5/2016 cho thấy $H_{vn}$ tăng trung bình 57,49 cm (từ 44,75 cm lên 102,24 cm); $H_{mầm}$ tăng 44,27 cm (từ 23,25 cm lên 67,52 cm); $D_t$ tăng 79,80 cm (từ 18,85 cm lên 98,65 cm).
  • Đề xuất kỹ thuật lâm sinh: Đưa ra hướng dẫn về thời vụ trồng (vụ xuân hoặc hè thu), mật độ (200–220 cây/ha, cự ly 6 x 8 m), đào hố (50x50x50 cm trong vườn), bón lót phân chuồng hoai mục kết hợp NPK; kỹ thuật chăm sóc định kỳ xới xáo bán kính 60–80 cm, bón thúc NPK, tưới giữ ẩm 70–80%, bấm ngọn tạo tán khi cây đạt 1–1,2 m và phòng trừ sâu rệp.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ các chỉ số định lượng về tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng hình thái của chồi ghép và hiện tượng ra hoa sớm; chỉ ra tính không thuần nhất về sinh trưởng giữa các cá thể. Kiến nghị chi tiết quy trình bón phân cho cây non (1–3 năm tuổi) và cây kinh doanh (chia 3 đợt: phục hồi sau thu hoạch, đón hoa tháng 1, thúc quả tháng 4), sử dụng chế phẩm A-H 502, tăng cường công tác khuyến nông và chính sách tín dụng ưu đãi cho nông hộ.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại hệ thống dữ liệu thực nghiệm định lượng về sinh trưởng của cây Trám đen ghép tại xã Hà Châu sau hơn một năm thiết lập mô hình.

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng và phẩm chất giữa hai mô hình

Chỉ tiêu theo dõi Mô hình 1 (Gia đình ông Tụ) Mô hình 2 (Gia đình cô Thúy)
Quy mô diện tích trồng trám ghép 2.500 m² 1.100 m²
Số lượng cây trồng ban đầu (1/2015) 43 cây 23 cây
Số lượng cây còn sống (5/2016) 33 cây 16 cây
Tỷ lệ sống (%) 76,74% 69,57%
Tỷ lệ chết (%) 23,26% 30,43%
Tỷ lệ cây phẩm chất Tốt (%) 63,64% (21 cây) 56,25% (9 cây)
Tỷ lệ cây phẩm chất Trung bình (%) 27,27% (9 cây) 25,00% (4 cây)
Tỷ lệ cây phẩm chất Xấu (%) 9,09% (3 cây) 18,75% (3 cây)
Chiều cao vút ngọn trung bình ($H_{vn}$ lần 3) 102,24 cm 79,31 cm
Chiều cao mầm ghép trung bình ($H_{mầm}$ lần 3) 67,52 cm 54,81 cm
Đường kính tán trung bình ($D_t$ lần 3) 98,65 cm 77,41 cm
Tăng trưởng $H_{vn}$ sau 3 kỳ đo (90 ngày) +9,79 cm +8,68 cm
Tăng trưởng $H_{mầm}$ sau 3 kỳ đo (90 ngày) +9,73 cm +8,31 cm
Tăng trưởng $D_t$ sau 3 kỳ đo (90 ngày) +4,56 cm +5,22 cm
Số cây xuất hiện hoa sau 1 năm 2 cây (cây số 12 và số 23) 0 cây

Biến động sinh trưởng của Mô hình 1 sau 1 năm trồng (5/2015 – 5/2016)

Chỉ tiêu đo đạc Thời điểm ban đầu (5/2015) Thời điểm kết thúc (5/2016) Lượng tăng trưởng tuyệt đối
Chiều cao vút ngọn trung bình ($H_{vn}$) 44,75 cm 102,24 cm +57,49 cm
Chiều cao mầm ghép trung bình ($H_{mầm}$) 23,25 cm 67,52 cm +44,27 cm
Đường kính tán trung bình ($D_t$) 18,85 cm 98,65 cm +79,80 cm

Hệ thống giải pháp và kiến nghị lâm sinh do tác giả đề xuất:

  • Kỹ thuật trồng và tạo tán: Thời vụ trồng tốt nhất vào đầu mùa mưa (vụ xuân hoặc hè thu). Kích thước hố đào trong vườn hộ đạt 50x50x50 cm, đào trước 1 tháng, bón lót 1–2 kg phân chuồng hoai mục trộn 0,1–0,2 kg NPK/hố. Khi cây đạt độ cao 1–1,2 m, tiến hành bấm ngọn để tạo tán, giữ lại 4–5 cành cấp 1 và 8–10 cành cấp 2 tỏa đều xung quanh. Trong 3 năm đầu, cần ngắt bỏ toàn bộ hoa xuất hiện sớm để cây tập trung dinh dưỡng phát triển khung tán và chiều cao.
  • Quy trình bón phân:
    • Cây kiến thiết cơ bản (1–3 năm tuổi): Bón 20–30 kg phân chuồng/năm (1 lần/năm); phân vô cơ bón 0,5–1 kg urê, 0,2–0,5 kg kali clorua, 1–2 kg supe lân, chia làm 4–5 đợt bón trong năm.
    • Cây thời kỳ kinh doanh: Chia làm 3 đợt bón dưới tán cây: Đợt 1 bón phục hồi sau thu hoạch kết hợp tỉa cành (30–50 kg phân chuồng, phân khoáng theo tỷ lệ 2 Đạm : 1 Kali : 4 Lân); Đợt 2 bón đón hoa vào tháng 1 (tỷ lệ 1 Đạm : 1 Kali); Đợt 3 bón thúc quả non vào tháng 4 (tỷ lệ 1 Đạm : 2 Kali). Định kỳ phun chế phẩm A-H 502 kết hợp chất bám dính từ 2–3 lần (1–2 lần giai đoạn nụ hoa, 1 lần khi quả non bằng đầu đũa) để tăng tỷ lệ đậu quả thêm 15–20%.
  • Phòng trừ sâu bệnh: Áp dụng giải pháp cơ giới và sinh học (ngắt đốt lá ngọn bị hại, bắt sâu ban đêm bằng bẫy đèn, bảo vệ thiên địch kiến lửa, ong rừng); khi sâu rệp bùng phát mật độ cao chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong danh mục cho phép.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận đã kiểm chứng cụ thể khả năng thích ứng và tốc độ sinh trưởng của cây Trám đen ghép trong điều kiện vườn đồi xã Hà Châu. Kết quả ghi nhận cây ra hoa ngay sau 1 năm trồng đã cung cấp bằng chứng thực địa khẳng định tính ưu việt của phương pháp nhân giống vô tính so với nhân giống từ hạt truyền thống tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu thực tế được phản ánh trong văn bản:

  • Thời gian theo dõi thực địa tương đối ngắn (thu thập số liệu trong 6 tháng, từ tháng 12/2015 đến tháng 5/2016 qua 3 chu kỳ đo cách nhau 45 ngày), cây mới dừng lại ở giai đoạn hơn 1 năm tuổi nên chưa đánh giá được toàn diện chu kỳ sinh trưởng đến khi cho thu hoạch ổn định.
  • Quy mô khảo nghiệm còn hẹp, mới thực hiện trên 2 mô hình hộ gia đình với tổng số 66 cây ban đầu, do đó tính đại diện sinh thái chưa bao phủ hết các dạng lập địa khác nhau tại địa phương.
  • Điều kiện thời tiết năm 2015–2016 diễn biến bất lợi (mùa đông rét buốt kèm mưa phùn dài ngày, mùa hè nắng nóng) kết hợp với sâu rệp hại đã làm phát sinh tỷ lệ chết từ 23,26% đến 30,43%, khiến sinh trưởng giữa các cá thể thiếu đồng đều.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản định hướng:

  • Tiếp tục theo dõi quá trình sinh trưởng và phân hóa cành tán của 2 mô hình trong các năm tuổi tiếp theo (từ 2 đến 5 năm tuổi).
  • Đánh giá khả năng đậu quả, sản lượng thực tế và chất lượng thương phẩm của quả trám ghép khi bước vào giai đoạn kinh doanh.
  • Nghiên cứu hoàn thiện quy trình phòng trừ tổng hợp đối với loài rệp chích hút và bệnh thối ngọn trong vụ đông xuân.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên rừng, Lâm học, Trồng trọt và Khuyến nông khi thực hiện các đề tài nghiên cứu về nhân giống vô tính cây rừng bản địa, cải tạo vườn tạp và phương pháp điều tra lâm sinh trên cây lâm đặc sản.
  • Cán bộ kỹ thuật khuyến nông – khuyến lâm cấp cơ sở: Tham khảo các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể về mật độ trồng (cự ly 6 x 8 m), tỷ lệ bón phân định kỳ cho cây con và cây kinh doanh, cũng như kỹ thuật bấm ngọn tạo tán cho cây ăn quả thân gỗ lớn.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo nhất: Bảng số liệu chi tiết về biến động kích thước chồi ghép ($H_{mầm}$), phương pháp đánh giá phẩm chất cây theo cấp hình thái và quy trình bón phân kết hợp sử dụng chế phẩm A-H 502 trong Phần 4 và Phần 5.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ sống của cây Trám đen ghép tại hai mô hình đạt bao nhiêu sau hơn một năm trồng?
Tại Mô hình 1 (gia đình ông Nguyễn Văn Tụ), số cây sống là 33 trên tổng số 43 cây ban đầu, đạt tỷ lệ sống 76,74% (tỷ lệ chết 23,26%). Tại Mô hình 2 (gia đình cô Trương Thị Thúy), số cây sống là 16 trên tổng số 23 cây ban đầu, đạt tỷ lệ sống 69,57% (tỷ lệ chết 30,43%).

2. Tăng trưởng chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và đường kính tán ($D_t$) của Mô hình 1 sau một năm (2015 – 2016) biến động như thế nào?
Sau một năm chăm sóc (từ tháng 5/2015 đến tháng 5/2016), tại Mô hình 1: Chiều cao vút ngọn trung bình ($H_{vn}$) tăng từ 44,75 cm lên 102,24 cm (tăng thêm 57,49 cm); Đường kính tán trung bình ($D_t$) tăng từ 18,85 cm lên 98,65 cm (tăng thêm 79,80 cm).

3. Khóa luận ghi nhận hiện tượng ra hoa sớm ở những cây nào trong quá trình điều tra?
Sau một năm trồng, hiện tượng ra hoa sớm chỉ ghi nhận được tại Mô hình 1 trên 2 cá thể là cây số 12 ($H_{vn}$ = 158 cm, $H_{mầm}$ = 121 cm, $D_t$ = 136 cm) và cây số 23 ($H_{vn}$ = 241 cm, $H_{mầm}$ = 95 cm, $D_t$ = 124,5 cm). Mô hình 2 không có cây nào ra hoa.

4. Những đối tượng sâu bệnh hại chính nào đã xuất hiện trên cây Trám đen ghép tại hiện trường?
Thời tiết mưa phùn kéo dài kèm nhiệt độ thấp vào mùa đông gây bệnh thối ngọn và cháy lá; mùa hè nắng nóng gây khô héo mầm ghép; sau mùa đông xuất hiện rệp chích hút nhựa làm ngọn cây còi cọc và biến dạng.

5. Tác giả kiến nghị kỹ thuật bấm ngọn tạo tán và bón phân cho cây Trám ghép thời kỳ kinh doanh như thế nào?
Khi cây cao 1–1,2 m, tiến hành bấm ngọn, giữ lại 4–5 cành cấp 1 và 8–10 cành cấp 2 tỏa đều. Với cây kinh doanh, bón 3 đợt/năm: đợt 1 sau thu hoạch (30–50 kg phân chuồng + đạm : kali : lân tỷ lệ 2:1:4), đợt 2 đón hoa vào tháng 1 (đạm : kali tỷ lệ 1:1), đợt 3 thúc quả vào tháng 4 (đạm : kali tỷ lệ 1:2); kết hợp phun chế phẩm A-H 502 từ 2–3 lần.

Kết luận

Khóa luận của Đinh Minh Hải đã cung cấp bức tranh định lượng rõ ràng về khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống của cây Trám đen ghép trong mô hình cải tạo vườn tạp tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình sau hơn một năm thiết lập. Kết quả khẳng định cây ghép có tỷ lệ sống khá (69,57% – 76,74%), sinh trưởng nhanh về cành tán và có khả năng ra hoa sớm vượt trội so với cây gieo từ hạt. Các giải pháp lâm sinh về kỹ thuật bấm ngọn tạo tán, bón phân phân kỳ và phòng trừ sâu bệnh được đề xuất bám sát thực tiễn lập địa, là cơ sở khoa học tin cậy để nhân rộng mô hình trồng Trám đen ghép hàng hóa tại địa phương.