Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và lý luận của đề tài 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và đặc tính không hạt của cam quýt Cam quýt thuộc nhóm cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng phát triển của cây chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố nội tại (di truyền, sinh lý) và yếu tố ngoại cảnh (nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, khí hậu, sâu bệnh…) tác động vào. Đối với cam quýt số hạt trong quả cao là một trong những đặc tính quan trọng làm giới hạn tiêu thụ quả tươi ở cây có múi cả thị trường trong và ngoài nước.
Một trong những mục tiêu chính của chương trình chọn tạo giống cây có múi ở nước ta và trên thế giới hiện nay là: giống không hạt, hình dạng đẹp, phẩm chất ngon, không mẫn cảm với các loại sâu, bệnh hại nguy hiểm. Xu hướng chọn giống cam quýt trên thế giới ngoài việc chọn tạo các giống có năng suất, chất lượng cao, ổn định, chống chịu với điều kiện môi trường, sâu bệnh thì mục tiêu còn hướng tới chọn tạo ra các giống ít hạt hoặc không hạt. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, ngoài ra còn có một số chất kích thích sinh trưởng. Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, chúng có vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng.
Trong cây trồng luôn tồn tại các cơ chế điều chỉnh các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống. Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật bón phân trong từng giai đoạn là rất cần thiết vì cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng. Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết. Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng.
Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh 4 thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả. Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng Cây trồng nói chung và cam quýt nói riêng luôn tồn tại các cơ chế điều khiển các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống. Chất điều hòa sinh trưởng chính là các chất điều tiết các cơ chế này và thông qua tác động của các chất điều hòa sinh trưởng phôi có thể hình thành phát triển thành quả không qua quá trình thụ phấn thụ tinh do vậy quả được tạo thành do tác động của các chất này thường không hạt hoặc ít hạt. Các chất này được tổng hợp với một lượng rất nhỏ ở các cơ quan đến một bộ phận nhất định của cây, từ đó chuyển sang các bộ phận khác để điều tiết hoạt động sinh lý của cây.
Trong chất điều hòa sinh trưởng có Gibberellin (GA3) và Naphthalene aceticd NAA được tổng hợp ở tất cả các bộ phận còn non của cây và được vận chuyển không phân cực. Tác dụng sinh lý của GA3 là ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, sự lớn lên của quả, tạo quả không hạt, ngăn cản sự rụng của các cơ quan như lá, hoa, quả, làm chậm quá trình già hóa của toàn cây và sự chín của quả, kích thích kéo dài thân, dóng, kích thích sự nảy mầm của hạt, củ. NAA có tác dụng kích thích cây trồng ra rễ, ra hoa đồng loạt, kết nhiều trái, trái có phẩm chất tốt, ngăn ngừa rụng trái non, cho sản lượng tốt. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang Hàm Yên là một huyện miền núi phía Bắc giáp huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp huyện Yên Sơn, phía Đông giáp xã Tân Mỹ của huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp huyện Yên Bình, Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
Tổng diện tích đất tự nhiên trong toàn huyện là 90.092,53 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp của vùng sản xuất cam tập trung 64.661,9 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 12.447,4 ha (đất trồng cây hàng năm 4.937,4 ha, đất trồng cây lâu năm là 7.509,9 ha), đất lâm nghiệp 51.725,1 ha; diện tích nuôi trồng thuỷ sản, đất nông nghiệp khác 391,7 ha, địa hình đất đai chủ yếu là đồi núi. Kinh tế chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp và trồng cây ăn quả. Với ưu điểm có hệ thống đường giao thông tương đối thuận đó là có trục đường quốc lộ 2 và đường tỉnh lộ ĐT 189, ĐT 178 chạy qua, thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá cũng như việc phát triển kinh tế xã hội trong vùng sản xuất cam tập trung. Nguồn gốc cam quýt và phân loại Hiện nay ý kiến của các tác giả có khác nhau song về cơ bản đều thống nhất là các loại cây ăn quả có múi trồng trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ và Miến Điện.
Nằm trong khu vực này, Việt Nam cũng là nơi phát sinh của một số loài và giống cam, quýt tồn tại cho đến nay. Nguồn gốc cây có múi được ghi nhận là ở Đông Nam Á bao gồm cả Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ, trong đó có cả vùng Nam Nepal, nơi có những thung lũng và sườn đồi được bảo vệ khỏi những cơn gió lạnh khô và mưa vào mùa Hè [42]. Tuy nhiên sự thuần hoá và trồng trọt cây ăn quả có múi lại bắt đầu ở Trung Quốc”. Theo Trần Thế Tục (1980) nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3.
Một số tác giả cho rằng nguồn gốc quýt Kinh (Citrus nobilis Lour) và quất là ở miền Nam Việt Nam, xứ Đông Dương. Các hệ thống phân loại cam quýt đầu tiên chủ yếu dựa trên các đặc điểm giải phẫu hoa, đặc điểm hình thái, phân bố địa lý và cả lịch sử phát triển của một số chi quan trọng. Hệ thống phân loại được thừa nhận nhiều nhất hiện nay là của Swingle và Reece (1967). Theo khoá phân loại của Swingle (1967) có 16 loài, phần lớn các loài cây cam, quýt, chanh, bưởi… thuộc chi Citrus (gồm 2 chi phụ là Eucitrus và Papeda), tộc Citreae, họ phụ Aurantoideae, họ Rutaceae, bộ Geranial.
Ở Việt Nam chi Citrus có 11 loài (Võ Văn Chi (1997))[5]. Theo Phạm Hoàng Hộ (1999)[11] chi Citrus ở Việt Nam có 25 loài cả trồng trọt và hoang dại (có 4 loài có tên quýt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồng rộng rãi ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam từ vùng núi cao Sa Pa, Đà Lạt tới các vùng thấp đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… đến đồng bằng Nam Bộ. Tóm lại cam quýt là cây ăn quả có nhiều loài, nhiều chủng khác nhau, được loài người thuần dưỡng lâu đời. Qua quá trình chọn lọc đã tạo ra được nhiều loại quả ngon, giàu chất dinh dưỡng nhất là vitamin và chất khoáng.
Việt Nam nằm trong vùng Đông Nam Á có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho cam quýt phát triển. Trong những năm gần đây do trủ trương phát triển của nhà nước, nhu cầu tiêu 6 dùng các loại quả ngày càng tăng, được các cấp chính quyền quan tâm, nhiều vườn cây ăn quả, nhiều trang trại trồng cây ăn quả ra đời, những vùng trồng cam quýt nhiều đang có dự án khôi phục lại các vườn cam như Hà Giang, cải tạo vườn tạp thành vườn chuyên canh ở đồng Bằng Nam Bộ bước đầu đã mang lại những thành tích nhất định (Nguyễn Hữu Đống và cs, 2003) [9]. Những nghiên cứu về cây cam 1. Những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây ăn quả có múi Cam quýt là cây kém chịu hạn và không chịu được ngập úng do có bộ rễ cộng sinh với nấm.
Vì vậy đất trồng cam quýt cần đủ ẩm, thoáng khí, mực nước ngầm sâu dưới 1m là những điều kiện tốt cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ cam quýt. Về mặt dinh dưỡng, bên cạnh các nguyên tố đa lượng như N, P, K cam quýt còn cần các nguyên tố trung lượng, vi lượng như: Ca, S, Zn, B, Mo, Mn, Mg, Fe, Cu v. Nếu thiếu hụt một trong các nguyên tố dinh dưỡng trên đều làm cho cam quýt sinh trưởng và phát triển kém, khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh kém, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm. - Nhiệt độ Theo Trần Thế Tục (1980) [18] và nhiều tác giả khác cho rằng cây cam, quýt, chanh, bưởi sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ 12 – 39 oC, nhiệt độ thích hợp nhất từ 23 - 27 oC.
Tại nhiệt độ thấp - 5 oC có một số giống có thể chịu được trong thời gian rất ngắn. Khi nhiệt độ cao 40 oC kéo dài trong thời gian dài trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểu hiện bên ngoài là lá rụng, cành khô héo. Tuy nhiên cũng có giống chỉ bị hại khi nhiệt độ không khí lên đến 50 – 57 oC. Nhìn chung nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cam quýt như: Sự phát lộc, quá trình quang hợp, sự hoạt động của bộ rễ, sự lớn lên của quả.Bằng những nghiên cứu của mình Vũ Công Hậu (1996) [10] cho rằng rễ cam quýt hoạt động tốt khi nhiệt độ tăng dần từ 9 – 23 oC.
Khi nhiệt độ tới 26 oC cây hút đạm mạnh. Ngoài ra sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn làm quả phát triển mạnh, đồng thời có ảnh hưởng đến khả năng tích luỹ, vận chuyển đường bột và axit trong cây vào quả. Tuy nhiên, khi nhiệt độ ban đêm quá thấp làm 7 cho hoạt động này kém đi. Những giống có khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp thường có phẩm vị ngon, mã quả đẹp, hấp dẫn, ngược lại những giống chịu nhiệt có phẩm chất kém hơn.
Ở các vùng đất tốt, có nhiệt độ mùa Hè không quá nóng, mùa Đông không quá lạnh với nhiệt độ bình quân năm >15 oC, tổng tích ôn từ 2.500 cũng có thể trồng cam quýt. Ở các vùng lục địa xa biển không nên trồng cam quýt ở độ cao từ 1.