Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài * Cơ sở khoa học biện pháp bón phân Phân hữu cơ vi sinh là một loại phân bón bao gồm nhiều chủng loại vi sinh vật hữu ích như: vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân, phân giải xenluloza, và các chất khó tan, vi sinh vật kích thích quá trình quang hợp,vi sinh vật kháng bệnh… Kết hợp với các sản phẩm hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên như: Than bùn, than bùn thải từ các ao hồ, rác thải trong sinh hoạt, các sản phẩm phụ nông nghiệp… Trong quá trình phân giải tạo mùn và cung cấp các nguyên tố cần thiết cho cây trồng, đồng thời có tác dụng cải thiện độ phì cho đất, bảo vệ môi trường. Việc thử các loại phân hữu cơ vi sinh thay thế phân khoáng cho cây chè là hết sức cần thiết, trong thực tế hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về quy trình sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ xong phạm vi ứng dụng ra thực tế còn nhiều khó khăn vì chỉ thực hiện trong phạm vi hẹp, thời gian chuyển đổi ngắn các giải pháp kỹ thuật chưa bộc lộ hết hiệu quả. Sử dụng phân hữu cơ vi sinh thay thế dần dần và tiến tới loại bỏ các loại phân khoáng đối với cây chè, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ tác động đến năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn cải thiện môi trường, cải thiện độ phì cho đất.
Bón phân cho chè kinh doanh là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm thúc đẩy sinh trưởng của cây chè để tăng năng suất và chất lượng chè. Khi xây dựng quy trình bón phân cho chè căn cứ vào điều kiện đất đai, khí hậu, đặc điểm sinh lý của cây và khả năng cho năng suất của nương chè. Cây chè có khả năng hút chất dinh dưỡng liên tục trong chu kỳ phát dục cá thể của cây. Ngay cả trong điều kiện mùa đông nhiệt độ thấp 5 cây chè tạm ngừng sinh trưởng xong vẫn yêu cầu một lượng dinh dưỡng nhất định, vì thế việc cung cấp dinh dưỡng cho cây chè vẫn tiến hành thường xuyên trong năm 78.
Quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và quá trình sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một quá trình mâu thuẫn thống nhất. Vì vậy cần phải bón phân hợp lý điều chỉnh quá trình sinh trưởng, sinh dưỡng đối với cây chè hái búp và điều chỉnh sinh trưởng sinh thực đối với chè thu hoạch quả, giống… Chè là cây có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rộng, nó có thể sống ở nơi đất màu mỡ cũng có thể sống ở đất cằn cỗi nghèo dinh dưỡng nhưng vẫn cho năng suất nhất định. Tuy nhiên muốn nương chè cho năng suất cao, phẩm chất tốt, nhiệm kỳ kinh tế kéo dài cần bón phân đầy đủ cho chè. Trong búp chè non của cây chè có 4,5%N, 1,5% P2O5, VAF1, 2-2,5% K2O (Eden 1958) mà hàng năm chúng ta hái đi 5 - 15 tấn búp tươi/ha và đốn đi một lượng thân lá đáng kể.
Như vậy hàng năm qua hái và đốn ta đã lấy đi từ chè một lượng lớn N, P, K và các chất khoáng khác, hơn nữa hàng năm một lượng dinh dưỡng đáng kể trong đất bị rửa trôi, xói mòn (theo Daraseha thì lượng N bị rửa trôi thường bằng 1/3 lượng N bón vào đất). Do vậy cần bón bổ sung lượng dinh dưỡng đã lấy đi từ cây chè và lượng dinh dưỡng bị rửa trôi để cây chè sinh trưởng phát triển tốt. Trong quá trình chăm sóc thì bón phân là một việc không thể thiếu cho bất kỳ loại cây trồng nào. Mỗi giống chè sẽ thích hợp với mỗi loại phân bón và liều lượng khác nhau.
Trên cơ sở đó chúng ta cần xây dựng một chế độ bón phân hợp lý sẽ giúp cho chè sinh trưởng, phát triển tốt đạt năng suất cao, ổn định và chất lượng tốt. Vai trò của phân bón đến năng suất và chất lượng của chè Năng suất cây trồng là kết quả tổng hợp của tất cả các yếu tố sinh trưởng nội tại bên trong và các yếu tố ngoại cảnh tác động trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển cây trồng. Chè là cây trồng cho sản phẩm thu hoạch là búp và lá non do vậy khi bón các loại phân khoáng vì nhiều lý do như: điều kiện kinh tế, hạn chế về hiểu biết kỹ thuật, dẫn đến mất cân đối thừa hay thiếu nguyên tố nào đó đều ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của cây, sâu bệnh phát sinh phát triển nhiều, năng suất chất lượng giảm. Đồng thời với các vùng trồng chè chủ yếu là đồi dốc việc sử dụng các phân khoáng như: Ure, kalyclorua… Với phương pháp bón trên bề mặt thì rất dễ bị rửa trôi, hiệu quả sử dụng phân thấp, gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước.
Để đạt được tiêu chuẩn chất lượng nông sản, bón phân cân đối cả đa lượng, trung lượng và vi lượng, với mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế tối đa trên đơn vị đất, lượng bón phải đủ, nhưng không thừa để tiết kiệm và tránh ô nhiễm môi trường đất, nước và nông sản. Đối với cây chè phân vi sinh có vai trò quan trọng, nó không những cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật trong đất, làm tăng các thành phần dinh dưỡng: N, P, K và các nguyên tố trung, vi lượng… Nhưng thực trạng hiện nay việc sử dụng phân hữu cơ cho chè còn gặp nhiều khó khăn: do phải cạnh tranh nguồn hữu cơ với các cây trồng khác, đồi chè thường xa nhà, cây chè vào giai đoạn kinh doanh đã khép tán nên việc vận chuyển và bón phân thường gặp khó khăn. Những giải pháp để tăng cường hữu cơ cho chè là làm phân tự chế bằng cách đào hố ủ ngay tại vườn chè, trồng cây xanh, cây họ đậu để lấy thân lá ép xanh cho chè, ép xanh cành, lá già sau khi đốn chè, ngoài ra việc bón phân cho chè phải được chú ý ngay từ khi bón lót trước khi trồng. 7 Sang thập niên 70 các giống mới, năng suất cao đã được gieo trồng trên diện rộng, thay dần các giống cũ lượng đạm ngày càng tăng, giống mới không những cần nhiều đạm mà còn cần một lượng gấp đôi giống cũ, năng suất trước đó tăng sau chúng lại giảm xuống, sự cân bằng dinh dưỡng bị phá vỡ.
Lân trở thành yếu tố hạn chế năng suất, trong suốt 2 thập kỷ qua không bón lân thì hiệu của đạm cũng giảm, thậm chí không cho năng suất. Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, lĩnh vực nghiên cứu sản xuất phân bón đã có bước phát triển nhảy vọt đặc biệt là công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ vi sinh là sự kết hợp giữa các chất hữu cơ trong tự nhiên và các loại vi sinh có tác dụng cải thiện môi trường cơ giới, lý, hóa, sinh trong đất, phân giải các chất hữu cơ thành mùn, các nguyên tố khó tiêu thành dễ tiêu, tăng cường khả năng cố định đạm… làm cho đất trở nên tơi xốp, phì nhiêu. Các kết quả nghiên cứu cho thấy chất dinh dưỡng được hoàn trả cho đất thấp hơn nhiều so với lượng chất dinh dưỡng mà nông sản và sản phẩm phụ đã lấy đi và không cân đối giữa tỷ lệ N:P2O5:K2O. Để đảm bảo cho một nền nông nghiệp bền vững phải tăng cường sử dụng phân bón trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa phân vô cơ và hữu cơ, sử dụng hợp lý với điều kiện hiện nay.
* Hàm lượng N; P2O5; K2O - Hàm lượng N (Đạm): trong chè tập trung ở các bộ phân còn non như: búp và lá non, N tham gia vào sự hình thành các axit amin và protein. Bón đủ N lá chè có màu xanh quang hợp tốt, cây chè sinh trưởng tốt cho nhiều búp, búp to. Thiếu N chồi mọc ít, lá vàng, búp nhỏ, năng suất thấp. nếu quá nhiều hàm lượng tanin và cafein giảm, hàm lượng ancolit tăng, chè có vị đắng.
Nguồn cung cấp N cho đất là do quá trình khoáng hóa chất hữu cơ và mùn trong đất, do hoạt động cố định đạm của các loại vi sinh vật đặc biệt là do con người bón vào đất… 8 - Hàm lượng P2O5 (lân): trong búp non của chè có 1,5% P2O5. Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quan trọng trong việc tích lũy năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây chè, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét, chống hạn cho chè. Thiếu lân lá chè xanh thẫm, có vết nâu hai bên thân chính, búp nhỏ, năng suất thấp. - Hàm lượng K2O (Kali): kali trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân cành và các bộ phận đang sinh trưởng.
Nó tham gia vào quá trình trao đổi chất cho cây, làm tăng hoạt động của các men, làm tăng tích lũy gluxit và axit amin, tăng khả năng giữ nước của tế bào, tăng năng suất, chất lượng chè, làm tăng khả năng chống chịu cho chè. Hàm lượng kali trong đất phụ thuốc vào đá mẹ, điều kiện phong hóa đá và hình thành đất, chế độ canh tác và bón phân. Khi thay thế dần phân hóa học bằng phân hữu cơ và phân ủ (Compost) năng suất chè không giảm, chất lượng chè được cải thiện. khi kết hợp 30 tấn phân ủ (Compost) + NPKMg 3: 1,5: 1: 0,3 đã làm tăng cho năng suất chè tăng 15% so với chứng.
Nhu cầu dinh dưỡng và vai trò của các yếu tố dinh dưỡng đối với cây chè 1. Nhu cầu dinh dưỡng Cây chè thích hợp trồng trên đất chua vừa đến ít chua, độ dày tầng đất càng sâu thì cây chè sinh trưởng, phát triển càng tốt và tuổi thọ của cây chè càng kéo dài. So với các cây trồng khác thì cây chè có khả năng sống ở những nơi đất cằn cỗi, nghèo kiệt dinh dưỡng mà vẫn cho thu nhập. Tuy nhiên muốn cây chè cho năng suất cao, chất lượng tốt có nhiệm kỳ kinh tế dài thì cần phải bón phân đầy đủ sao cho đất trồng chè cần phải đạt những yêu cầu sau: - pHKCL từ 4,0 - 6,0 9 - Đất có độ phì tốt - Đất sâu, tầng đất từ 60 - 100 cm Độ ẩm cao, lượng mưa hàng năm trên 1.500 mm và phân bố tương đối đều từ tháng 4, tháng 5 đến tháng 10, tháng 11.