Đặt vấn đề Cây đậu tƣơng (Glcine Max (L) Merril) là một trong những cây trồng quan trọng trên thế giới cũng nhƣ ở nƣớc ta. Đậu tƣơng là cây trồng ngắn ngày có thể trồng nhiều vụ trong một năm (3-4 vụ /năm) đặc biệt có thể trồng trên diện rộng trong các vùng sinh thái nƣớc ta. Mặt khác đậu tƣơng cũng là một loại cây trồng có từ rất lâu, đƣợc xếp vào một trong 5 loại cây lấy hạt quan trọng là: Lúa nƣớc, đậu tƣơng, lúa mì, đại mạch, cao lƣơng (kê). Sở dĩ đậu tƣơng đƣợc con ngƣời đánh giá cao là vì giá trị dinh dƣỡng và kinh tế cao.
Hạt đậu tƣơng có thành phần dinh dƣỡng cao, hàm lƣợng protein từ 35- 40%, lipit từ 18-24%, hydratcacbon từ 10-16%. Ngài ra còn có mặt của nhiều loại nguyên tố, muối khoáng và các vitamin cần thiết. Đậu tƣơng là loại hạt duy nhất mà giá trị của nó đƣợc đánh giá đồng thời cả protein và lipit. Protein trong đậu tƣơng đứng đầu về giá trị đạm có nguồn gốc từ thực vật không những cao mà còn có đầy đủ và cân đối các axit amin nhƣ: Methionin, systein, lysine, valin… Đặc biệt là giàu lysine và tryptophan (2 loại amin này có vai trò quan trọng trong đối với sự tăng trƣởng của ngƣời và động vật).
Từ hạt đậu tƣơng ngƣời ta còn có thể chế biến đƣợc trên 600 sản phẩm khác nhau, từ những sản phẩm truyền thống đến hiện đại dƣới các dạng nhƣ lên men, làm khô nhƣ đậu phụ, giá đậu tƣơng, tƣơng bần, sữa đậu nành, xì dầu… Ngoài ra ở Nhật Bản các món ăn đƣợc chế biến từ đậu tƣơng, ngƣời ta gọi là các món thức ăn khỏe đẹp. Chính vì vậy, đậu tƣơng đƣợc mệnh danh là “Ngƣời đầu bếp của thế kỷ”. n 2 Ngoài ra cây đậu tƣơng còn có khả năng cố định Nitơ tự do nhờ sự cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm Rhizobium Japonicum. Sau mỗi vụ trồng, đậu tƣơng đã cố định và bổ sung vào đất từ 60-80 kg N/ha tƣơng đƣơng với 300-400 kg đạm sunfat.
Do vậy cây đậu tƣơng ngoài giá trị kinh tế còn là cây cải tạo đất rất tốt. Với giá trị nhiều mặt của đậu tƣơng mang lại. Nƣớc ta đã chú trọng phát triển sản xuất đậu tƣơng và đậu tƣơng đã trở thành một trong những cây trồng chính trong cơ cấu cây trồng của nhiều vùng sản xuất của nƣớc ta. Việc sử dụng phân khoáng liên tục nhiều năm trong nông nghiệp nói chung và cây đậu tƣơng nói riêng đã có những hạn chế.
Để ổn đinh năng suất và chất lƣợng, nâng cao hiệu quả kinh tế góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi giảm dần sự phụ thuộc vào phân hóa học để hƣớng tới một nền nông nghiệp sạch và bền vững. Do vậy việc sử dụng phân hữu cơ sinh học thay thế một phần phân khoáng là cần thiết để xác định đƣợc loại phân hữu cơ sinh học tót cho cây đậu tƣơng vì vậy chúng tôi đã nghiên cứu ảnh hƣởng một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến sự sinh trƣởng, phát triển và năng suất đến của đậu tƣơng đối với vùng sản xuất nhất định chọn ra loại phân bón cho đậu tƣơng đạt năng suất cao. Dựa trên cơ sở thực tiễn và khoa học nên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ sinh học đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT51vụ hè thu năm 2016 tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích của việc nghiên cứu - Xác định đƣợc loại phân hữu cơ sinh học có ảnh hƣởng tốt đến sinh trƣởng và năng suất giống đậu tƣơng ĐT 51 trồng vụ hè thu 2016 tại Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.
Mục tiêu của đề tài - Đánh giá ảnh hƣởng của một số loại phân hữu cơ sinh học đến đặc điểm nông sinh học của giống đậu tƣơng ĐT 51 vụ hè thu 2016 tại Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá ảnh hƣởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tƣơng ĐT 51 vụ hè thu 2016 tại Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá ảnh hƣởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến khả năng nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống đậu tƣơng ĐT 51 vụ hè thu 2016 tại Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá ảnh hƣởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tƣơng ĐT 51 vụ hè thu 2016 tại Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Xác định cơ sở khoa học về loại phân bón lót hữu cơ sinh học thích hợp cho giống đậu tƣơng ĐT 51 vụ hè thu 2016 tại Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu đề tài nhằm bổ sung thêm những tài liệu khoa học về cây đậu tƣơng phục vụ cho công tác giảng dạy nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất ở địa phƣơng. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xác định đƣợc loại phân bón lót thích hợp cho giống đậu tƣơng ĐT 51 vụ hè thu 2016 tại Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.
Từ kết quả nghiên cứu đó khuyến cáo cho ngƣời dân loại phân bón lót hữu cơ sinh học tốt cho giống đậu tƣơng ĐT 51 vụ hè thu 2016 tại Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Nƣớc ta là một nƣớc nông nghiệp vì vậy các loại cây trồng đóng vai trò rất quan trọng, trong đó cây đậu tƣơng có đóng góp rất lớn. trong xu thế hội nhập và phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ năng suất cây trồng của nhiều nƣớc trên thế giới so với nƣớc ta có sự vƣợt trội.
vấn đề thiết yếu của ngành nông nghiệp nƣớc ta hiện nay là cải tiến năng suất và chất lƣợng sản phẩm cây trồng nói chung và cây đậu tƣơng nói riêng. Đậu tƣơng thích hợp trồng trên đất thịt nhẹ, tơi xốp, thông thoáng, thoát nƣớc tốt. Đất có khả năng giữ ẩm tốt hơn nên tránh đƣợc hạn tốt hơn. Chất hữu cơ lại có khả năng đệm tốt nên giữ cho độ pH của đất ít thay đổi, có khả năng giữ các chất khoáng do ta bón vào tốt hơn để rồi cung cấp dần dần lại cho rễ cây tốt hơn.
Phân hữu cơ sinh học đƣợc tạo thành thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau (phế thải nông, lâm nghiệp, phế thải chăn nuôi, phế thải chế biến, phế thải đô thị, phế thải sinh hoạt.), trong đó các hợp chất hữu cơ phức tạp dƣới tác động của vi sinh vật hoặc các hoạt chất sinh học của chúng đƣợc chuyển hoá thành mùn. Phân hữu cơ sinh học là loại phân bón bao gồm nhiều chủng vi sinh vật hữu ích nhƣ: vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân, phân giải xelluloza, và các chất khó tan, vi sinh vật kích thích quá trình quang hợp, vi sinh vật kháng bệnh. Kết hợp với các sản phẩm hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên nhƣ: than bùn, bùn thải từ các ao hồ, rác thải trong sinh hoạt, các sản phẩm phụ nông nghiệp. qua quá trình phân giải tạo mùn và cung cấp các nguyên tố cần thiết cho cây trồng, đồng thời có tác dụng cải thiện độ phì cho n 5 đất, bảo vệ môi trƣờng.
Việc thử nghiệm các loại phân hữu cơ sinh học thay thế một phần phân khoáng bón cho cây đậu tƣơng là hết sức cần thiết. Sử dụng phân hữu cơ sinh học thay thế dần dần và tiến tới loại bỏ các loại phân khoáng đối với cây đậu tƣơng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ tác động đến thời gian sinh trƣởng phát triển và năng suất sản phẩm mà còn cải thiện môi trƣờng, cải thiện độ phì cho đất. Để biết đƣợc loại phân bón lót hữu cơ sinh học tốt cho đậu tƣơng cần thí nghiệm trồng trên các loại phân bón lót khác nhau nhằm xác định ảnh hƣởng của phân bón lót hữu cơ sinh học đến sinh trƣởng phát triển và năng suất của đậu tƣơng. Từ đó góp phần làm tăng năng suất, chất lƣợng mang lại hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống.
Cơ sở thực tiễn của đề tài Đậu tƣơng là cây cung cấp protein, vitamin, khoáng chất và các axit amin cần thiết cho con ngƣời, thức ăn gia súc (thân, lá, hạt…) nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp nhƣ chế biến thực phẩm, thức ăn gia súc, dực phẩm… Trong hạt đậu tƣơng chứa hầu hết các axit amin quý nhƣ: Lysin, methionine, phenylalanine, valin, tryptophan… Các loại vitamin (A, B1, B2, D, E, F…). Đậu tƣơng là cây quang hợp theo chu trình C3, sử dụng ánh sáng có cƣờng độ cao kém hơn ngô, mía… Đậu tƣơng bão hòa ánh sáng ở cƣờng độ 20. Theo những nghiên cứu của các nhà khoa học thì đậu tƣơng có ít chất béo, hàm lƣợng khoáng cao, có tác dụng chữa bệnh bƣớu cổ, giúp ngƣời béo hạ thấp lƣợng cholesteron trong máu. Đậu tƣơng là cây trồng ngắn ngày nên là cây trồng luân canh, xen canh, gối vụ góp phần quan trọng trong cơ cấu cây trồng, làm tăng năng suất cây trồng nâng cao hệ số sử dụng đất.
Đặc biệt đậu tƣơng có khả năng cải tạo đất vì vậy nó càng có ý nghĩa hơn trong chiến lƣợc thâm canh tăng vụ và khả năng sử dụng đất bền vững. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tƣơng trên thế giới 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Mặc dù cây đậu tƣơng có nguồn gốc từ Đông Bắc Trung Quốc nhƣng khả năng thích ứng rộng nên nó đƣợc phân bố khá rộng từ 400 Vĩ Bắc đến 400 Vĩ Nam (Ths. Ma Thị Phƣơng, 2004) [6].
Hiện nay có khoảng 78 nƣớc trồng đậu tƣơng. Hiện nay đậu tƣơng là cây trồng có năng suất và sản lƣợng lớn nhất trong các cây đậu đỗ. Diện tích trồng đậu tƣơng của thế giới cho đến năm 2014 là 177. Sản lƣợng đạt khoảng 306.
Đậu tƣơng là cây trồng ngắn ngày có giá trị dinh dƣỡng và giá trị kinh tế cao, đồng thời có phạm vi thích ứng rộng, có thể trồng trên nhiều loại đất do vậy cho đến nay đậu tƣơng đƣợc trồng ở hầu hết các nƣớc trên thế giới tập trung nhất là ở các khu vực châu Mĩ chiếm 73,15%, tiếp đến là các nƣớc khu vực Châu Á chiếm 23,15%.