Đặt vấn đề Cây đậu tương (Glycine max (L) Merr) là cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [2]. Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao, với hàm lượng protein từ 38 - 40%, lipit từ 15 - 20%, hyđrat các bon từ 15 - 16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống (Phạm Văn Thiều, 2006 [2]).
Hạt đậu tương là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit. Protein của hạt đậu tương không những có hàm lượng cao mà còn có đầy đủ và cân đối các axit amin cần thiết. Lipit của đậu tương chứa một tỷ lệ cao các axit béo chưa no (khoảng 60 -70%), có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm như axit linoleic chiếm 52- 65%, axit oleic chiếm 25 - 36%, axit lonolenoic chiếm 2 - 3%. Ngoài ra, trong hạt đậu tương còn có nhiều loại vitamin như vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2.
(Phạm Văn Thiều, 2006)[8] Ngoài ra đậu tương còn có khả năng cố định Nitơ tự do nhờ vi khuẩn cố định đạm sống trong nốt sần ở rễ. Từ đó cung cấp được một hàm lượng Nitơ lớn cho đất, giúp cải tạo đất trồng. Theo số liệu thống kê chính thức của chính phủ, đậu tương ở Việt Nam được trồng ở 28 tỉnh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam. Khoảng 65% đậu tương nước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không cần màu mỡ; và 35% được trồng ở những vùng đất thấp Luan van 2 ở khu vực đồng bằng sông Hồng.
Đậu tương được trồng cả 3 vụ trong năm (vụ xuân, vụ hè và vụ đông). Tuy nhiên trong những năm gần đây, diện tích gieo trồng đậu tương của nước ta liên tục giảm: năm 2010 diện tích là 197,8 nghìn ha, sơ bộ đến 2016 chỉ còn 94 nghìn ha. Vì vậy, sản lượng cũng liên tục giảm từ 298,6 nghìn tấn năm 2010 xuống còn 147,5 nghìn tấn sơ bộ 2016. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ so với các loại cây trồng khác chính là nguyên nhân khiến ngành đậu tương vẫn không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước.
Việt Nam đang nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn: Năm 2014 chúng ta nhập khẩu 1,564 nghìn tấn, giá trị 913,2 triệu USD, sơ bộ đến tháng 8/2017 chúng ta đã nhập khẩu 918,72 nghìn tấn, giá trị 391,93 triệu USD, mục đích là để phục vụ cho nghành chế biến thức ăn chăn nuôi, một phần rất nhỏ trong số đó dùng để chế biến sản phẩm thức ăn hàng ngày như sữa, đậu phụ hoặc dầu ăn.[9] Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc với tổng diện tích đất tự nhiên 353318, 91 ha; trong đó diện tích đất dùng để sản xuất nông nghiệp chiếm trên 30%. Đậu tương là một trong nhóm cây trồng hàng năm được tỉnh quan tâm chỉ đạo sản xuất. Vì đậu tương là cây trồng ngắn ngày, giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao, không quá kén đất, có thể gieo trồng cả 3 vụ, có khả năng cải tạo đất. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trong tỉnh luôn giảm (Năm 2005 diện tích là 3389 ha; năm 2013 là 1309 ha; năm 2014 là 1184 ha; năm 2015 là 987 ha; năm 2016 là 930 ha) (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2016) [10], không đủ đậu tương cung cấp cho ngay cả thị trường trong tỉnh.
Nguyên nhân là do: Người dân vẫn chủ yếu sử dụng các giống đậu tương cũ, đậu tương địa phương (DT84, đỗ lông, Nhật Bóng. Các giống đậu tương này đã có biểu hiện thoái hóa như thân cây thấp, còi cọc, ít phân cành, ít đốt. Chưa có bộ giống đậu tương mới cho năng suất cao và phù hợp Luan van 3 với điều kiện canh tác tại Thái Nguyên; bà con nông dân chưa áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất đậu tương. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương vụ Hè Thu năm 2107 tại Thái Nguyên” 1.
Mục đích nghiên cứu - Lựa chọn được giống đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, và năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái vụ Hè Thu ở tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu đề tài - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng của các giống đậu tương. - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí của các giống đậu tương. - Nghiên cứu về mức độ nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của một số giống đậu tương.
- Nghiên cứu về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của một số giống đậu tương. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa học xác định giống đậu tương thích hợp tại Thái Nguyên. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu và học tập.
Ý nghĩa thực tiễn - Xác định và giới thiệu một số giống đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong vụ Hè Thu ở Thái Nguyên. - Sử dụng giống đậu tương mới năng suất cao vào sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, tăng thu nhập cho nông dân sản xuất đậu tương, kích thích sản xuất đậu tương phát triển ở Thái Nguyên. Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn đề tài 2.
Cơ sở khoa học Tiến bộ nổi bật của khoa học kỹ thuật trên thế giới những năm cuối thế kỷ 20 là ứng dụng ưu thế lai trong quá trình chọn tạo giống. Các nhà khoa học đã thành công trong việc lai tạo ra những giống đậu tương mới năng suất cao, khả năng chống chịu tốt. Các giống đậu tương mới sử dụng ưu thế lai trong tạo giống có ưu điểm là năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận như hạn, rét… Để nâng cao năng suất, chất lượng và sản lượng cây đậu tương đặc biệt trong bối cảnh thời tiết khí hậu có nhiều thay đổi như hiện nay, thì các giống là một khâu then chốt. Các giống mới phát triển được trong sản xuất phải có độ đồng đều cao, thể hiện các yếu tố di truyền tốt của giống, có khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao, chất lượng tốt và ổn định qua nhiều thế hệ.
Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm xác định sự thích ứng của giống đối với địa phương trên các loại đất, các loại khí hậu và các biện pháp kĩ thuật khác ở mỗi địa phương. Nếu những giống mới chưa được khảo nghiệm kĩ lưỡng và chưa được công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diện rộng thì sẽ gây hiện tượng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây trồng. Do vậy công tác so sánh, đánh giá giống là việc làm cần thiết không thể thiếu, đồng thời quyết định sự thành công của công tác chọn tạo giống. Cơ sở thực tiễn của đề tài Sản xuất ở đậu tương ở Thái Nguyên phát triển không mạnh do hiệu quả sản xuất chưa cao.
Có nhiều nguyên nhân nhân như: năng suất thấp, giá bán không ổn định, sâu bệnh… Trong đó nguyên nhân chính là chưa có được bộ Luan van 5 giống tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Người dân vẫn chủ yếu sử dụng các giống đậu tương cũ, đậu tương địa phương như (ĐT84, đỗ cúc, đỗ lông,. Các giống đậu tương này đã có biểu hiện thoái hóa như thân cây thấp, còi cọc, ít phân cành, ít đốt. Chưa có bộ giống đậu tương mới cho năng suất cao và phù hợp với điều kiện canh tác tại Thái Nguyên.
Xuất phát từ thực tiễn đó cần phải khảo nghiệm các giống đậu tương sao cho phù hợp với từng vùng nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân, cải thiện đời sống cộng đồng. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương là một trong những cây có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới và là cây trồng đứng vị trí thứ tư trong các cây làm lương thực thực phẩm sau lúa mỳ, lúa nước và ngô. Vì vậy sản xuất đậu tương tăng nhanh cả về diện tích, năng suất và sản lượng được thể hiện ở bảng 2.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây (2011-2016) Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2011 103,76 25,19 261,44 2012 105,35 22,89 241,19 2013 111,02 24,99 277,54 2014 117,64 26,04 306,37 2015 120,79 26,76 323,20 2016 121,53 27,56 334,89 (Nguồn: FAOSTAT, 2018) Qua bảng số liệu 2.1 ta thấy: - Về diện tích: Trong những năm qua diện tích đậu tương trên Thế giới không ngừng tăng lên. Năm 2011 diện tích đậu tương toàn Thế giới là 103,76 ha và tăng dần đến năm 2016 diện tích đã là 121,53 ha, tăng 17,78 ha so với năm 2011. Đây cũng là năm đạt diện tích cao nhất trong những năm gần đây. Luan van 6 - Về năng suất: có sự biến động không lớn, năm 2011 năng suất đạt 25,19 tạ/ha, đến năm 2012 có chiều hướng giảm còn 22,89 tạ/ha, rồi các năm sau đó năng suất tăng dần đến năm 2016 năng suất đạt 27,56 tạ/ha.
- Về sản lượng: cùng với sự biến động của năng suất thì sản lượng của đậu tương trên thế giới cũng biến động theo năm 2011 sản lượng là 261,44 tấn, đến năm 2012 sản lượng có chiều hướng giảm còn 241,19 tấn, các năm sau đó sản lượng tăng dần đến năm 2016 sản lượng đạt 334,89 tấn. Trên thế giới có rất nhiều quốc gia trồng đậu tương tuy nhiên sản xuất đậu tương tập trung chủ yếu ở 4 nước: Mỹ, Brazil, Acgentina và Trung Quốc (Phạm Văn Thiều, 2006) [8]. Sản lượng đậu tương của 4 nước này chiếm 90 – 95% sản lượng đậu tương của toàn thế giới.