Luận văn về đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá ngạnh Cranoglanis bouderius tại Nghệ An

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá ngạnh Cranoglanis bouderius Richardson 1846 trong điều kiện nuôi tại tỉnh Nghệ An.

Chuyên ngành

Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án
128
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số đặc điểm sinh học của cá Ngạnh

1.1.1. Vị trí phân loại

1.1.2. Đặc điểm hình thái

1.1.3. Đặc điểm phân bố

1.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng

1.1.5. Đặc điểm sinh trưởng

1.1.6. Đặc điểm sinh sản

1.2. Tình hình nghiên cứu về cá Ngạnh trên thế giới và Việt Nam

1.2.1. Tình hình nghiên cứu cá Ngạnh trên thế giới

1.2.1.1. Các nghiên cứu về tên loài trong chi cá Ngạnh
1.2.1.2. Nghiên cứu về hình thái cá Ngạnh
1.2.1.3. Nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của thịt cá Ngạnh

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG BỐ KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN

PHỤ LỤC CỦA LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Cá Ngạnh - Cranoglanis bouderius (Richardson, 1846) là loài cá thuộc bộ cá nheo (Siluriformes), họ cá Ngạnh (Cranoglanididae). Loài cá này phân bố rộng rãi từ miền Bắc đến miền Nam Trung Bộ Việt Nam, đặc biệt là ở các hệ thống sông lớn như sông Hồng, sông Mã và sông Lam. Cá Ngạnh sống ở tầng đáy, thích nghi với môi trường nước chảy vừa hoặc chậm, và thường sống thành đàn. Thịt cá Ngạnh có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều axit béo thiết yếu. Tuy nhiên, nguồn lợi cá này đang bị suy giảm nghiêm trọng do khai thác quá mức và tác động của con người. Theo danh lục Đỏ của IUCN, loài này được xếp vào nhóm nguy cấp (VU), cần được bảo vệ và phát triển. Do đó, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá Ngạnh là rất cần thiết để bảo tồn và phát triển nguồn lợi loài cá này.

II. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài là cung cấp dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học, kỹ thuật sinh sản và ương nuôi cá Ngạnh trong điều kiện nuôi tại tỉnh Nghệ An. Mục tiêu cụ thể bao gồm xác định các đặc điểm sinh học cơ bản như phân loại, hình thái, sinh trưởng, dinh dưỡng và sinh sản của cá Ngạnh. Những thông tin này sẽ là cơ sở cho việc xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá Ngạnh, nhằm cung cấp nguồn cá giống cho nuôi thương phẩm và bảo tồn nguồn gen quý này. Đề tài cũng sẽ đề xuất các giải pháp kỹ thuật sinh sản cá Ngạnh trong điều kiện nuôi tại Nghệ An.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nội dung luận án cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về cá Ngạnh và các loài trong họ Cranoglanididae. Đề tài đưa ra các dẫn liệu đầy đủ về đặc điểm hình thái, giải phẫu, dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh học sinh sản của cá Ngạnh - Cranoglanis bouderius. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên cung cấp các dẫn liệu về kỹ thuật sinh sản cá Ngạnh trong điều kiện nuôi tại Nghệ An. Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ việc thuần hóa, sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm loài cá này, từ đó góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi nước ngọt có giá trị kinh tế và bảo tồn loài cá quý hiếm này.

IV. Điểm mới của luận án

Luận án này là công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về đặc điểm sinh học, kỹ thuật sinh sản của cá Ngạnh - Cranoglanis bouderius lần đầu tiên được công bố ở Việt Nam. Các điểm mới bao gồm xác định một số đặc điểm sinh học quan trọng như phân loại cá Ngạnh bằng phương pháp phân tử, đặc điểm hình thái, sinh trưởng, dinh dưỡng và sinh học sinh sản. Luận án cũng đã xác định các biện pháp kỹ thuật về sinh sản cá Ngạnh trong điều kiện nhân tạo, bao gồm thuần dưỡng, nuôi vỗ thành thục, kích thích sinh sản, thu tinh và ấp trứng. Ngoài ra, luận án còn cung cấp những dẫn liệu khoa học về tác nhân gây bệnh và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh ở cá Ngạnh.

15/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số đặc điểm sinh học của cá Ngạnh 1. Vị trí phân loại Cá Ngạnh được phân loại như sau: Ngành động vật có dây sống: Chordata Lớp cá vây tia: Actinopterygii Bộ cá Nheo: Siluriformes Họ cá Ngạnh: Cranoglanididae Giống cá Ngạnh: Cranoglanis Loài cá Ngạnh: Cranoglanis bouderius (Richardson, 1846) Tên tiếng Anh: Helmet catfish Tên đồng vật: Bagrus bouderius Richardson, 1846; Macrones sinensis Bleeker, 1873; Cranoglanis sinensis Peters, 1880.

Tên thường gọi: cá Ngạnh (cá lớn), cá Ngạnh thon (Nguyễn Văn Hình 1. Cá Ngạnh trưởng thành Hảo, 2005). Đặc điểm hình thái Theo Nguyễn Văn Hảo (2005) khi phân tích 03 mẫu cá thể cá Ngạnh thu ở sông Bằng Giang (Cao Bằng) và sông Kỳ Cùng (Lạng Sơn) có một số chỉ tiêu hình thái như sau: L=238-243 mm, L0= 198-205 mm, D=5-6; A= 27-35; P=I, 10-11; V= 1,10-11; C= 16; L0= 4,21-4,27 H= 3,87-4,13 T= 7,07-7,33 Icd= 11,39-12,38 ccd. H= 1,68-1,71 chiều rộng thân = 2,67 – 2,94h OO= 2,3O.

Thân tròn trơn láng. Phần đầu dẹp bằng, thân và đuôi dẹp bên. Viền lưng cong không đều, từ vây lưng tới mõm vát chéo thẳng; từ sau vây lưng gần như thẳng, đến vây mỡ cong xuống. Viền bụng từ mút mõm đến trước vây lưng gần vạt chéo, đến 6 hậu môn cong và đến cán đuôi thóp ngắn.

Phần đầu nhìn từ phía lưng lồi, mút trước hơi hình lưỡi cày. Mõm bẹp, mút hơi hẹp và nhọn, chiều rộng bằng chiều dài. Lỗ mũi trước tiếp cận với mút mõm, nằm gần cạnh phía trong gốc râu hàm, cách xa lỗ mũi sau. Lỗ mũi sau cách lỗ mũi trước bằng ½ lần tới viền trước mắt, phía trước mọc râu mũi.

Mắt lớn, nằm bên và ở chính giữa phần đầu; nhìn từ mặt bụng có thể nhìn thấy phần nhãn cầu.Khoảng cách hai mắt rộng lồi. Có một rãnh nông chạy từ đỉnh chẩm kéo dài quá mắt, phần ngang mắt rất rộng. Miệng dưới nằm sát mút mõm, hướng ngang, hình cong nông, chiều rộng bằng chiều rộng đầu ở nơi đó. Môi dưới phát triển hơn môi trên.

Rãnh sau môi dưới sâu, ngắt quãng ở giữa, độ rộng bằng đường kính mắt. Răng trên hai hàm sắc, nhọn. Râu mũi gốc to, mút cuối quá viền mắt. Râu hàm to bẹt, kéo dài chưa tới gốc vây ngực.

Râu cằm ngoài tới quá gốc vây ngực. Râu cằm trong ngắn hơn, chỉ tới phần lõm của mép mang [22]. Vây lưng rất cao, dài hơn chiều dài đầu và hơn chiều cao thân; gai vây ngắn hơn tia phân nhánh, mé trước sần sùi, mé sau có răng cưa rắn chắc; khởi điểm cách sau mút cuối xương thìa khoảng 1,5 lần đường kính mắt, tới mút mõm bằng tới khởi điểm vây mỡ hoặc quá một ít. Vây mỡ ngắn, khởi điểm không rõ ràng, ước thiên về nửa sau của gốc vây hậu môn, mút sau tự do.

Vây hậu môn có gốc dài tương đương với khoảng cách giữa vây ngực và vây bụng (PV), khoảng cách từ khởi điểm vây hậu môn (A) tới gốc vây đuôi bằng khoảng cách từ A tới khởi điểm vây ngực, viền vây hơi bằng. Vây ngực có khởi điểm ở dưới qua lỗ mang, tới mút mõm ngắn hơn tới khởi điểm vây bụng. Tia gai vây ngực mé trước có răng cưa yếu, mé sau răng cưa sắc. Vây bụng nhỏ, khởi điểm tới mút mõm bằng tới gốc vây đuôi, mút sau vượt qua khởi điểm vây hậu môn.

Hậu môn cách vây hậu môn bằng 1/3 khoảng cách giữa vậy bụng và vây hậu môn (VA). Vây đuôi phân thùy sâu, mút nhọn, thùy trên dài hơn. Gai chấm trên phía lưng thô ráp, tiếp xúc với gốc vây lưng. Mút sau của phần nhô xương thìa nhọn dài bằng 2/3 vây ngực.

Phần bụng sau vây bụng hơi lồi. Đường bên hoàn toàn từ phía trên lỗ mang kéo dài ngang bằng đến gốc vây đuôi, hai bên phân nhánh dạng ống ngắn. Vây hậu môn phủ da ở gốc chiếm khoảng ½ chiều cao vây. Lưng đầu xám đen, thân nhạt dần, bụng trắng nhạt.

Các vây có gốc xám nhạt, ngọn xám đen. Các râu màu đen, còn râu cằm trắng trong [22]. Đặc điểm phân bố Cá Ngạnh - Cranoglanis bouderius (Richardson, 1846) là một loài đặc hữu trong hệ thống sông Châu Giang (Pearl river) (Quảng Châu), hệ thống kênh mương ở đảo Hải Nam (Trung Quốc), sông Hồng (Việt Nam). Cá Ngạnh cũng phân bố Nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây thuộc hệ thống sông Tây Giang và Vân Nam) [22].

Ở Việt Nam, cá Ngạnh loài đặc trưng cho khu hệ được bắt gặp ở tất cả các hệ thống sông từ miền Bắc đến miền Nam Trung Bộ, không gặp ở miền Nam. Giới hạn thấp nhất về phía Nam biết được của loài cá này là sông Trà Khúc- Quảng Ngãi [16]. Ở Nghệ An, cá Ngạnh được thu thập trên lưu vực sông Lam thuộc khu vực các huyện: Con Cuông, Tương Dương, Nam Đàn, Nghĩa Đàn, … Nhưng nguồn lợi cá Ngạnh tự nhiên đang giảm mạnh do áp lực khai thác và thay đổi cấu trúc thủy vực làm thay đổi bãi đẻ, vùng phân bố của cá. Cá sống ở tầng đáy và kề đáy, cá thích sống ở nơi nước chảy vừa hoặc chậm, đáy nhiều bùn cát.

Cá thường sống thành từng đàn và thường thấy ở vùng hạ lưu nhiều hơn trung và thượng lưu các sông [22]. Đặc điểm dinh dưỡng Cá Ngạnh thuộc nhóm ăn tạp nên thành phần thức ăn đa dạng. Thức ăn chủ yếu là các động vật không xương sống, côn trùng, cá con. Trong ống tiêu hóa của cá còn gặp một số loài động vật nhỏ thuộc nhóm giáp xác Crustaceae (Cyclops, Ostrracoda,.), ấu trùng côn trùng.

Ngoài ra, cá còn ăn các nguyên sinh động vật, ấu trùng giáp xác, thực vật, các mảnh vụn hữu cơ lắng đọng và cả động thực vật thượng đẳng. Cá Ngạnh có tập tính kiếm ăn cả ban ngày và ban đêm, ở những nơi nước trong. Cá thường bơi theo đàn để kiếm mồi, thường vào ban đêm [22]. Chiều dài ruột của cá Ngạnh tăng dần theo tuổi, song chỉ ngắn hơn chiều dài thân một ít.

Cá tích cực kiếm mồi nên dạ dày thường có độ no cao. Chúng hay tập trung ở các bến phà, bến cá ven sông và ăn các chất cặn bạ của con người và súc vật thải ra sông. Thành phần thức ăn thay đổi theo kích thước cá, theo mùa vụ và phụ thuộc vào nơi sống. Ở những vùng hạ lưu, cá có kích thước lớn, ngoài mảnh vụn hữu cơ, rau, quả,.

thì trong ống tiêu hóa còn bắt gặp đa số là Annelides, Decapoda, Mollusca. Đặc điểm sinh trưởng Cá Ngạnh có kích thước trung bình, con lớn nhất nặng 1,5 kg. Cá 1 năm có thể đạt chiều dài 15,5-21,0 cm, trung bình khoảng 19 cm; năm thứ 2, tăng trưởng bằng 31,4 % năm đầu, còn các năm sau tăng trưởng chỉ từ 19-23% [22]. Nhìn chung, cá có tốc độ tăng trưởng lớn, năm sau giảm dần về chiều dài, nhưng lớn nhanh về khối lượng.

Sinh trưởng chiều dài có liên quan đến sự biến động của độ béo Fulton và độ béo Clark. Độ béo của cá Ngạnh tăng khi chiều dài cá tăng và đạt lớn nhất ở nhóm tuổi 5+, ngoài ra còn phụ thuộc các mùa trong năm. Thông thường, từ tháng 01 đến tháng 3 cá béo nhất. Đặc điểm sinh sản Cá đạt tuổi 3+ bắt đầu tham gia sinh sản.

Cá phát triển và thành thục tuyến sinh dục vào cuối mùa Đông, mùa vụ sinh sản vào khoảng từ tháng 3 đến 6 hàng năm, cá giống cỡ 5-6 cm thường xuất hiện vào khoảng tháng 7-9 hàng năm [22]. Cá Ngạnh đẻ trứng trong hang hốc tự nhiên hoặc tự đào hố ở đáy đất. Cá bố mẹ bảo vệ trứng và con cái ở nơi đẻ, thời điểm này cá rất dữ. Sức sinh sản của cá không cao, cá ở kích thước 27,5-42,5 cm đẻ được 300-12.500 trứng/cá thể, sức sinh sản tương đối là 10-23 trứng/g cá.

Kích thước trứng 0,9-1,3 mm chiếm 50- 95% tổng số lượng trứng. Tình hình nghiên cứu về cá Ngạnh trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu cá Ngạnh trên thế giới a) Các nghiên cứu về tên loài trong chi cá Ngạnh: Năm 1846, lần đầu tiên Richardson đã mô tả cá Ngạnh (Cranoglanis bouderius hay C. sinensis) như là loài Bagrus bouderius dựa trên một bức tranh sơn dầu của Trung Quốc [91].

Đến năm 1880, Peter đã mô tả giống Cranoglanis cùng với một loài mới, Cranoglanis sinensis. Loài này có đặc điểm chính là có đầu lớn, thân dài vừa phải, không vẩy. Vây lưng và vây ngực thường có ngạnh cứng, nhớt phủ ở da, vây có độc tố gây đau nhức cho người bị châm [90]. Cả Cranoglanis henrici và C.

9 multiradiatus đều có mấu lồi rộng hơn, vây hậu môn dài hơn (30,2 – 35,0% SL so với 27,6 – 30,0), với nhiều tia nhánh hơn (34 – 39 so với so với 28- 32), và có nhiều đốt sống hơn C. Hai loài này lại không giống nhau, trong đó C. henrici có miệng rộng hơn (34,5 - 36,4% HL so với 30,8) và đôi mắt bố trí xa nhau hơn C. A - mặt trái mấu lồi của Cranoglanis henrici, 143,3 mm SL; B - mặt trái mấu lồi của C.

bouderius, 146,0 mm SL. và Kottelat ) A B Hình 1. Nhìn mặt dưới đầu. A- Cranoglanis henrici, 197,8 mm SL; B- C.

multiradiatus, 187,6 mm SL. và Kottelat ) Năm 1926 đến năm 1927, Koller đã mô tả một loài cá ở đảo Hải Nam (Trung Quốc) và đưa ra giống mới Pseudotropichthys với loài điển hình Pseudotropichthys multiradiatus, nhưng kết quả nghiên cứu của ông đã không so sánh với các loài thuộc giống Cranoglanis và lại xếp giống mới Pseudotropichthys vào phân họ Bagrinae [85]. Năm 1931, Myer đã thống nhất giống Pseudotropichthys với giống Cranoglanis và đưa ra họ mới Cranoglanididae (Myers, 1931). Tuy vậy, ông không đưa ra được vị trí của giống này trong một vài họ đã biết.

Do đó, Myer đã đặt tên họ mới là Cranoglanididae và đã được một số tác giả khác công nhận như Mo T. Herre (1934) đã hoài nghi về loài cá Ngạnh có nguồn gốc ở Hồng Kông. Dựa 10 trên các dữ liệu cơ bản về mẫu ở tỉnh Quảng Tây (Quảng Châu - Trung Quốc). Ông cho rằng nguồn gốc của cá Ngạnh là ở tỉnh Quảng Châu.

Tuy nhiên, ông tin rằng giống Cranoglanis không xuất hiện ở các đảo gần biển, đặc biệt là mẫu của Koller thu thập ở đảo Hải Nam. Mặc dù thực tế là cá Ngạnh xuất hiện phổ biến ở sông Tây Giang (West river) - một nhánh của sông Châu Giang và các nhánh của sông này, sông Fu ở Quảng Châu-Trung Quốc [83]. Jayaram (1955) đã thống nhất gộp 2 loài C. sinensis thành 2 loài C.

multiradiatus đã được coi là hai loài riêng biệt [84]. Bleeker (1973) đã mô tả Macrones sinensis trên một bức tranh vẽ ở Trung Quốc và được Jayaram & Boeseman (1976) chỉ ra chính là loài thuộc giống Cranoglanis [84] Eschmeyer (1998) cho rằng phân bố chuẩn của C. sinensis ở gần Hồng Kông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài báo "Luận văn về đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá ngạnh Cranoglanis bouderius tại Nghệ An" cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá ngạnh, một loài cá có giá trị kinh tế cao ở tỉnh Nghệ An. Bài báo mang đến những kiến thức bổ ích cho người đọc, đặc biệt là những người hoạt động trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, giúp họ hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học, kỹ thuật nhân giống và nuôi trồng cá ngạnh.

Bên cạnh đó, bài báo còn cung cấp những thông tin về kỹ thuật nuôi trồng cá ngạnh, bao gồm các yếu tố môi trường cần thiết, thức ăn phù hợp, kỹ thuật chăm sóc và phòng bệnh. Những thông tin này rất hữu ích cho việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản ở Nghệ An và các tỉnh lân cận.

Để hiểu rõ hơn về các chủ đề liên quan đến nuôi trồng thủy sản, bạn có thể tham khảo các bài báo liên quan như:

Chúc bạn có những trải nghiệm học hỏi bổ ích!