Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VAN DE NGHIÊN CUU 1. Lịch sử nghiên cứu van dé Nhu cau giao tiếp với người khác là một nhu câu cơ bản nhất trong đời sông con người, Con người ton tại và phát triển nhờ vào qua trình giao tiếp. Trong giao tiếp, ngôn ngữ là phương tiện quan trọng và la yếu tổ trung tâm cua quả trình giao tiếp. Lược khảo lịch sử nghiên cứu van để rỗi loạn ngôn ngữ trên thể giới Những nghiên cứu vẻ rồi loạn trong sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ bat dau tử thể kỷ 19.
Nam 1925, Gall là người đầu tiên bản vẻ các trường hợp trẻ gap khó khan trong việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ. ông đã phản hiệt với trẻ chậm phát triển tam than. vào những nim từ 1861 — 1874, các nha than kinh học như Broca. Wemike cũng đã đưa ra một loạt những khám pha mới day thủ vị về mỗi quan hệ giữa não bộ vả ngôn ngữ.
Chẳng hạn, roi loạn ngôn ngữ lẫn dau tiên Gall đưa ra có mỗi quan hệ với chứng mat ngôn ngữ mà các nha than kinh học dang nghiên cứu ở người lớn. Trong suất thể ky 19. những nghiên cửu ngôn ngữ và rỗi loạn ngôn ngữ chủ yếu dựa trên co sở sinh by học. Sang thể ky 20, năm 1937.
nha than kinh học Samuel T.Orton - cha đẻ thuyết hiển đại về rỗi loạn ngôn ngữ ở trẻ em đã chỉ ra mỗi liên hệ giữa những roi loạn trong việc học ngôn ngữ va những khó khăn khi tập đọc. Vào những năm 1940 - 1950, các nha tâm than học và bac sĩ nhì khoa cũng đã nghiên cửu trẻ không bj chậm phát triển tam than hoặc không bị diéc nhưng kha năng học ngôn ngữ van kém. Gesell va Amatruda là những người tiền phong trong ngành nhì khoa đã đưa ra những kỹ thuật mới ước lượng được phat triển ngôn ngữ và phat hiện ra “chứng mat ngôn ngữ hâm sinh”, Cũng trong thời gian nay. một số người làm việc trang y khoa đã đưa ra cách định nghĩa mới hơn vẻ roi loạn ngôn ngữ và trẻ gặp khó khăn trong việc học ngôn ngữ, Một số giáo viên chuyên dạy ngôn ngữ cho trẻ khiém thính như Ewing, McGinnis, Kleffner, Goldstein.đã tạo ra "phương phap liên tưởng” dé day cho trẻ bị chứng mat ngôn ngữ, Đặc biệt.
Mcginnis đã phan hiệt hai loại kha khăn vẻ ngôn ngữ thường gặp thấy ở trẻ đó là: chứng mat ngôn ngir dién dat hay tự động (ngây nay được gọi là roi loạn ngôn ngữ diễn đạt) và chứng mắt ngôn ngữ lĩnh hội hay cảm giác (ngày nay gọi là roi loạn ngôn ngữ tiếp nhận). Điều nảy ảnh hưởng lớn đến sự phat triển lĩnh vue nghiên cứu rỗi loạn ngôn ngữ. mở ra con đường mới cho việc can thiệp về ngôn ngữ cho trẻ. Mặc dù nam 1957 Morley cũng đã dat nên tang bệnh lý học về ngôn ngữ.
giúp các nhà trị liệu ngôn ngữ có được một tâm nhìn mới về ngôn ngữ va rồi loạn ngôn ngữ. mãi cho đến những năm 1950 vẫn không có một nghiên cứu nào cho rằng những rồi loạn trẻ mac phải trong quá trình phát triển ngôn ngữ la tự nó. thay vi là kết quả của những hội chứng khác chang hạn như “chime mat ngôn ngữ bam sinh”. diée hay chậm phat triển tam thản.
Cuỗi cùng, vào những nam 1960 - 1970, bệnh lý vẻ ngôn ngữ đã được thành lận. Học thuyết của Chomsky về sự chuyên đổi ngữ pháp đã tạo ra một cuộc cách mang lớn trong lĩnh vực nghiên cửu vẻ ngôn ngữ. Việc nghiên cứu về ngôn ngữ ở trẻ đã được mở rộng ra: từ cu phap đến ngữ nghĩa.Bénh lý ngôn ngữ đã có những bước tiến. mở rộng tam nhìn của moi người sang những khia cạnh mới trong thực tiễn lãm sảng, Với một khôi lượng lớn những thông tin đó.
các nha nghiên cửu vẻ bệnh học sẽ dé dang hơn trong việc mô tả những hành vi ngôn ngữ ở trẻ. lạo nên một bang so sánh chỉ tiết đổi với sự phat triển ngôn ngữ trong nhiêu hình thức va chức năng khác nhau. những co sở do liệu trên cung cap một kế hoạch chỉ tiết tiên trình phat triển ngôn ngữ dưới sự hướng dẫn va dua ra chương trình can thiệp. Điều nay ảnh hương rất lớn đến việc ngày nay hệnh lý ngôn ngữ được định nghĩa va điều trị như thé nao khi chủng ta gap hoặc khi chúng ta dé cap đề các dang rỗi loan ngôn ngữ,|7.
Các công trình nghiên cứu van dé rồi loạn ngôn ngữ ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ những năm 90 người ta bat dau quan tâm đến van để phát triển ngôn ngữ của trẻ va làm thẻ nao đề chữa trị. tạo điều kiện giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển một cách bình thường. Năm 1996, trường Thực Hanh Paris, Pháp (Ecole de Psuchologues Praticiens - EPP) đã bat tay với Việt Nam to chức hoạt động với trung tâm Nhi Khoa của BS. Dương Quynh Hoa va bệnh viện Nhi Dong 2.
Tir nam 2001 trở đi, với sự chap thuận của Uy Ban Nhân Dan TP.HCM va Sở Y Te, trường EPP cũng đã và dang hợp tác với bệnh viện Nhi Dong | de hình thành va phát triển đơn vị Tam lý thuộc khoa Kham bệnh, bệnh viện Nhi Dong |. Ngảy nay, hiện tượng trẻ roi loạn ngôn ngữ không chỉ các bác sĩ quan tâm, ma no con được nhieu người chủ ¥ đẻn, đã có nhiêu công trinh nghiên cứu về rồi loạn ngôn ngữ như: - Trong bai viết: “ Definitions and models of language impairments in children” (Các định nghĩa và các kiêu giảm sút ngôn ngữ o tre) / Michel HUPET, University of Louvain, Belgium (trường đại học Louvain, Bi), ong đã đưa ra việc xem xét ngắn gon một số những tên gọi trong sy roi loạn ngôn ngữ được các nha bệnh ly học ngôn ngữ sử dụng như: chứng mắt ngôn ngữ thời thơ au, chậm phát triển ngôn ngữ. roi loạn ngôn ngữ chuyên biệt. dong thời liên hệ những định nghĩa đó với mẽ hình hiện nay để co sự quan tam đặc biệt giúp lập kẻ hoạch can thiệp như the nao cho phù hợp va tốt nhất[ 144, 25] - Trong bài viết: “Phuong pháp khắc phục kho khăn trong học tập ngôn ngữ cho học sinh khuyết tật Tây Ninh” của Nguyễn Thi Kim Hien, trung tam i ng ” dich tir tải liệu tham khảo số 26 Gido dục Chuyên biệt.
có dé cập sơ lược một số van đề: the nao là trẻ khuyết tat ngôn ngữ, tinh chat va đặc điểm của những trẻ nảy, đồng thời đưa ra một số phương pháp khắc phục khuyết tật ngôn ngữ đặc thù cho học sinh tiêu học. [ 136, 10] - Bai viet: “Trẻ khiem thính ở trung tâm phục hỏi chức nang — Giáo duc trẻ em khuyết tật Khánh Hòa học ngôn ngữ như the nao?” của Phan Thị Sen, đẻ cận đến hai dạng trẻ khuyết tật ma trung tâm Phục hỏi chức năng - Giáo dục trẻ em khuyết tật Khánh Hòa đang nuôi đạy là trẻ chậm phát triển trí tuệ và trẻ khiém thính, bai viết đã đưa ra 3 biện pháp nhằm hỗ trợ cho các em trong việc học ngôn ngữ mà không có điều kiện sử dụng máy trợ thỉnh. [197, 13] - Nghién cứu: " Hiện trang học sinh lớp 3 gặp khó khăn trong tiếp nhận ngôn ngữ khi học ve lễ hội” của Lẻ Bình Lam Trúc - giao viên trường Nuôi day trẻ em khuyết tật tỉnh Bên Tre va Phạm Thị Đẹp - giáo viên trường Tiểu học Phủ Khương. thị xã Bên Tre, kết qua khảo sát cho thay những khó khăn trong việc tiếp nhận ngôn ngữ đã lam giảm sút hứng thủ học tập, khiến cho việc học tập trở nên nang ne, kết qua không cao ở học sinh lớp 3; từ đó đưa ra một so biện pháp hướng dẫn, giúp đỡ trẻ tiếp nhận ngôn ngữ một các tốt hơn.
50] - Nghiên cứu: “ Một số biện pháp giúp trẻ chậm phát triển ngôn ngữ”, của Th.s Hoang Mai, trường Cao dang Sư phạm — Mau giao trung ương 3. tac gia đã đưa ra thực trạng một so trẻ trường mam non có kho khan ve ngôn ngữ va dé xuất 3 phương pháp hiệu qua để giáo viên mam non dan giúp trẻ khắc phục và học nói tot hom, [166, 12] - Nghiên cửu: “ Tre rỗi loan ngôn ngữ khám chữa bệnh tại bệnh viện Nhi Đông 1", BS. Phạm Ngọc Thanh, Đơn vị Tam lý, bệnh viện Nhi Đông 1, bai viet đã đưa ra 8 nguyễn nhân dẫn den chậm noi dong thời bảo động thực trạng tre cham nói trong lửa tuổi mau giao đến khám là khả cao. chiếm den 45" trong tong số các ca bénh.
16] - Thong kẻ nguyên nhân dan đến chậm nói và các trường hợp trẻ chậm nói đến khám tại Đơn Vị Tâm Ly, bệnh viện Nhi Đông | được thực hiện bởi BS. Phạm Ngọc Thanh va tâm ly gia Clémence Guinot qua bai nghiên cửu: “Những vẫn de tâm lý ở trẻ em và trẻ vị thành niên tại bệnh viện Nhi Đẳng F núm Trên day là một số những công trinh nghiên cứu về ngon ngữ của trẻ ở những khia cạnh khác nhau. Nhưng đến nay chưa ai thông ké số trẻ bị rồi loạn ngôn ngữ đến khám tại bệnh viện Nhi Đồng | va 2 trong từng năm. De tải nay tien hành thông ké số trẻ rồi loạn ngôn ngữ 2 - 6 tuổi đến khám tại bệnh viện Nhi Dong | và 2 trong nam 2007 để phác thao “bức tranh” rỗi loạn ngôn ngữ cua trẻ.
chúng tôi phản loại các dạng réi loạn ngôn ngữ va nguyễn nhãn rỗi loan ngon ngữ ở số tre đến khảm tại 2 bệnh viện, 1. Cơ sử lý luận của vẫn dé nghiên cứu 1. Một số khái niệm công cụ Roi loạn ngôn ngữ là gi? Theo Uy ban dịch vụ nghe, nói ngôn ngữ trong các trường của tô chức “Nghe. noi ngôn ngữ” Mỹ đã dưa ra định nghĩa vẻ roi loan ngôn ngữ theo hưởng sau: Rồi loạn ngôn ngữ là sự suy yêu hoặc lệch lạc trong sự phát triển nhận thức hay trong việc su dụng ngôn ngữ noi, ngôn ngữ viết hoặc các hệ thông biểu tượng khác.
Sự rỗi loạn ngôn ngữ có thé liên quan đến hình thức của ngôn ngữ (âm vị. hình thai và những hệ thong cú pháp), đến nội dung của ngôn ngữ (hệ thông ngữ nghĩa) va chức năng cua ngôn ngữ trong việc liên lạc (hệ thông thực tẻ ) trong bat kỳ sự liên kết nào.[3, 26] Định nghĩa nay được sử dụng kha rộng rai, không chỉ bao gồm ngôn ngử noi ma ca ngôn ngữ viết. nó vẫn chưa giúp được các nhà trị liệu quyết định xem cải gi đã tạo nên sự thiêu hụt trong việc phát triển ngôn ngữ ở tre. một số định nghĩa ve rồi loạn ngôn ngữ nhân mạnh đến kha năng diễn đạt ngôn ngữ của trẻ.