mở đầu sự nghiệp nghiên cứu tâm lí học bằng các công trình nghiên cứu ngôn ngữ và tư duy của trẻ em với suy nghĩ coi ngôn ngữ trực tiếp phản ánh hành động, và ý nghĩ (tư duy) nảy sinh từ hành động. Trong những năm 1920, ông xuất bản một loạt công trình về vấn đề này: “Ngôn ngữ và tư duy ở trẻ em” (1923), “Mệnh đề và kết luận của trẻ (1924), “Mệnh đề luân lý” (1932), “Sự nảy sinh trí tuệ của trẻ em” ( 1936), “Tâm lý học về trí thông minh” (1947) [16]. Nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển của trẻ em như S. Sechenov (1829 – 1985) đưa ra học thuyết phản xạ và đặc điểm phát triển cảm giác vận động, ý chí, ngôn ngữ.
Sterner (1871 – 1938) nhà tâm lí học Đức với các công trình nghiên cứu chủ yếu của ông là về tri giác, ngôn ngữ, và các quá trình trí tuệ trẻ em. Ông thường sử dụng các thực nghiệm và thí nghiệm. Vưgotxki (1896 – 1934) có nhiều công trình nghiên cứu về tư duy và ngôn ngữ. Ông đóng góp rất nhiều công sức trong sự phát triển tâm lí học Xô Viết, giải quyết được rất nhiều vấn đề theo quan điểm mới và khoa học: nguồn gốc của tư duy, trí tuệ và của ngôn ngữ; Bản chất xã hội của tư duy ngôn ngữ; vai trò của ngôn ngữ trong tư duy và trí tuệ trẻ em; Sự hình thành và phát triển của ý và nghĩa trong quá trình phát triển từ.
[17] Lịch sử nghiên cứu về công cụ đánh giá sự phát triển của trẻ em trên thế giới bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong đó, trắc nghiệm được nghiên cứu như một công cụ chuẩn đoán tâm lý con người và nhất là trẻ em. Trắc nghiệm được sử dụng rộng rãi trên thế giới kể từ sau 1905, khi nhà tâm lý học người Pháp Alfed Binet (1857 – 1911) công tác với bác sĩ T.Simon thực hiện một loạt trắc nghiệm nghiên cứu năng lực trí tuệ của trẻ em ở những lứa tuổi khác nhau từ 3 – 15 tuổi để xác định mức độ phát triển trí tuệ của từng độ tuổi. Đó chính là thang đo lường trí tuệ Binet – Simon mà ngày nay còn sử dụng trong nghiên cứu tâm lý trẻ em.
Trắc nghiệm này được tiêu chuẩn hóa đầu tiên không chỉ về sự thống nhất hóa các bài tập và cách thức thực hiện mà cả việc đánh giá các tài liệu thu được. Trong lần xuất bản đầu tiên năm 1905, bộ trắc nghiệm đã có 50 bài tập dành cho trẻ từ 3 – 11 tuổi nhằm đánh giá óc phán đoán và sự thông hiểu mà Binet cho là hai thành phần quan trọng của trí thông minh. Lần xuất bản thứ hai năm 1908 thì số lượng bài tập tăng lên và đặt ra khái niệm “tuổi trí khôn” để chuẩn đoán trình độ trí tuệ của trẻ chậm phát triển. Năm 1908, nhà tâm lí học nổi tiếng A.
Binet bắt đầu tìm hiểu trẻ bằng các test, nghiên cứu xây dựng các thang đo sự phát triển trí tuệ. [41] Năm 1912, nhà Tâm lý học người Đức V. Stern đã đưa ra khái niệm về “chỉ số thông minh” viết tắt là IQ và xem đó như là chỉ số của sự phát triển trí tuệ, tức mức độ thông minh của trẻ so với chuẩn. Nhà bác học người Anh, C.
Spearman (1863 – 1945) qua nghiên cứu nhiều trắc nghiệm dựa trên phương pháp toán học, đã kết luận rằng có một nhân tố chung ảnh hưởng đến tất cả các trắc nghiệm được nghiên cứu. Bên cạnh đó, ông còn chỉ ra những nhân tố riêng chỉ tồn tại đối với mỗi trắc nghiệm. Quan niệm của Spearman đã được đưa vào trong tâm lý học, như là thuyết hai nhân tố (factors) của trí thông minh, đó là nhân tố G (general) và S (special). [1] Nhà tâm lý học người Mỹ, L.
Ông cho rằng trí thông minh gồm 7 nhân tố: V = sự lĩnh hội ngôn từ (vebal comprehension). W = hoạt bát ngôn ngữ (word fluency) N = khả năng vận dụng tài liệu chữ số (Number). 8 S = năng lực không gian (space) M = trí nhớ )memory). R = khả năng suy luận (reasoning).
[41] Từ đầu thế kỷ XX, trắc nghiệm không chỉ là phương pháp để chẩn đoán trí tuệ trẻ em mà còn mang tính tổng hợp để nghiên cứu nhân cách, được sử dụng rộng rãi để nghiên cứu về nhiều mặt phát triển của trẻ. Các nhà khoa học như R.V Venger đã chứng minh rằng, trắc nghiệm là một hệ thống bài tập được xây dựng riêng cho trẻ. Mỗi bài làm của trẻ đều được cho điểm, quy tắc cho điểm đơn giản và nhất quán. Điểm đánh giá không bị chi phối bởi những định kiến của người tổ chức trắc nghiệm.
Có một số bộ trắc nghiệm đánh giá đặc điểm nhân cách của cá thể do các nhà tâm lý học thuộc trường phái phân tâm học mà đứng đầu là S. Freud soạn thảo có tên gọi là “Trắc nghiệm hình chiếu” hoặc trắc nghiệm “Câu chưa kết thúc”, bộ trắc nghiệm của Rosenberg, bộ trắc nghiệm cảm tính của L. Trong các bài trắc nghiệm yêu cầu trẻ kể miệng nội dung của bức tranh. Căn cứ vào phần thể hiện của trẻ, người đánh giá sẽ biết trẻ đồng nhất bản thân với nhân vật trong tranh hoặc trong câu như thế nào, thể hiện tư tưởng, cảm xúc và sự sợ hãi của mình như thế nào.
Vì vậy tranh phải phản ánh những tình huống quen thuộc đối với trẻ ở gia đình, giao tiếp với những người thân trong gia đình, với bạn bè và người khác. Trong đánh giá sự phát triển của trẻ, người ta còn sử dụng trắc nghiệm Wechsler theo hệ thống chẩn đoán hiện đại về hành vi thích ứng bằng cách dùng các tiêu chí tổng thể. Bộ trắc nghiệm Wechsler bao gồm các bài tập riêng lẻ, mà việc thực hiện đòi hỏi sự tham gia của các dạng tư duy: tư duy trực quan – hành động, tư duy trực quan hình ảnh và tư duy logic. Trắc nghiệm trí tuệ của Wechsler cho trẻ mầm non là trắc nghiệm đo lường trí thông minh được thiết kế cho trẻ từ 2 – 7 tuổi, do David Wechsler xây dựng lần đầu vào năm 1967.
Đây là Trắc nghiệm trí tuệ sau test WAIS (test trí tuệ dành cho người lớn) và WICS (test trí tuệ dành cho trẻ em). Như vậy, các phiên bản trắc nghiệm đo trí tuệ của Wechsler đã bao quát được việc đo lường trí tuệ cho các lứa tuổi khác nhau, từ trẻ mầm non cho đến người trưởng thành. 9 Nhóm tác giả xây dựng test Denver là William K. Pranken Burg, Josian B.
Doss và Alma W. Fandal thuộc Trung tâm Y học Denver (Colorado, Hoa Kỳ). Tên đầy đủ của test Denver là Denver Developmental screening Test (viết tắt là DDST). Test Denver còn được gọi là trắc nghiệm đánh giá sự phát triển tâm lý - vận động cho trẻ từ sơ sinh đến 6 tuổi.
Test Denver kiểm tra khả năng của trẻ trong bốn lĩnh vực cơ bản: cá nhân – xã hội, vận động tinh, ngôn ngữ và vận động thô. Các chỉ số của các lĩnh vực theo trục hoành và đường tuổi biểu thị theo trục tung. Nếu trẻ không làm được các chỉ số bên trái đường tuổi của mình tức là trẻ có dấu hiệu chậm phát triển. Test Denver giúp phát hiện sớm những tình trạng chậm phát triển ngay từ trong giai đoạn 6 năm đầu đời.
Từ đó có những biện pháp can thiệp kịp thời. Test Denver được áp dụng lần đầu tiên vào năm 1967, được tiêu chuẩn hoá trên 20 quốc gia và đã được áp dụng cho hơn 50 triệu trẻ em trên toàn thế giới. Theo Dillard và Landsman (1968) có thể đánh giá khả năng học tập của trẻ thông qua một công cụ gọi là Thang xác định sớm Evanston (Evanston early Idetification scale – EEIS) có 10 Item ( mỗi Item thiếu sẽ cho điểm) với điểm khác nhau. Khoảng giữa thế kỷ XX xuất hiện bộ trắc nghiệm đánh giá mức độ sáng tạo ngôn ngữ và sáng tạo phi ngôn ngữ, sáng tạo hình ảnh của Guilford và Torrance.
Năm 1937, J Terman (1877 – 1956), giáo sư tâm lý học trường Đại học Stanford (Mỹ) đã cùng cộng sự cải tổ thang Binet – Simon thành thang Stanford – Binet. Bên cạnh đó, các trắc nghiệm đánh giá về trí khôn của trẻ cũng khá đặc trưng. Một trong những công cụ có giá trị để đánh giá trẻ đến tuổi học là test hình vẽ người thiếu của Gesell. Trắc nghiệm này là một phần của phương pháp đánh giá về phát triển và ứng xử mà Ames đã trình bày (1978).
[1] Công cụ Bayley - III đánh giá 5 lĩnh vực phát triển (Nhận thức, Ngôn ngữ, Vận động, Cảm xúc xã hội và thích ứng) của trẻ dưới 1 tuổi và trẻ từ 1 đến 3 được tiến hành qua hệ thống câu hỏi của người chăm sóc trẻ.[41] Thang đo kiểm tra phát triển Kyoto hiện nay đang được sử dụng phổ biến trên toàn nước Nhật để đánh giá sự phát triển của trẻ em. Đây là thang đo được Nhật hóa dựa trên ý tưởng thang kiểm tra phát triển ban đầu của nhà tâm lý học người Pháp - Alfred 10 Binet, người phát minh đầu tiên ra các test kiểm tra trí thông minh. Kyoto đánh giá và kiểm tra sự phát triển của trẻ ở 3 lĩnh vực: tư thế - vận động (P - M), nhận thức - thích ứng (C - A) và ngôn ngữ - xã hội (L - S).[41] Các công trình nghiên cứu về công cụ theo dõi, đánh giá sự phát triển trẻ em trên thế giới rất nhiều và tập trung vào công cụ trắc nghiệm. Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu các công cụ theo dõi, đánh giá trẻ em đang được sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới.
Nguyên nhân là do yêu cầu cải cách giáo dục mầm non, nhu cầu đánh giá hiệu ích đầu tư cho giáo dục mầm non, nhu cầu nghiên cứu so sánh các mô thức giáo dục mầm non, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực từ lứa tuổi mầm non. Những nghiên cứu ở Việt Nam Tháng 12/1946 Phòng Giáo dục ấu nhi thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục đã nhận được “Chương trình kiến thiết nền giáo dục” của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện và cử nhân Hoàng Xuân Nhi gửi từ Pari về, trong đó đề cập đến phương pháp giáo dục trẻ em dưới 7 tuổi, kèm theo bản dịch sự phát triển trí tuệ của trẻ từ 2 đến 7 tuổi của Alca Descoeduss. [11] Năm 1970, quyển sách tâm lý học với các số liệu nghiên cứu về sự phát triển tâm lý trẻ em Việt nam do Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Minh hạc, Trần Trọng Thủy.