Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC NGÔN NGỮ TIẾP NHẬN CỦA TRẺ MẪU GIÁO 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu năng lực ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới Ngôn ngữ là một sự sáng tạo kì diệu của loài người, là chức năng tâm lý cấp cao và là công cụ để con người tư duy và giao tiếp, là chìa khoá giúp con người nhận thức và chiếm lĩnh tri thức nhân loại.
Từ thời cổ đại, các nhà nghiên cứu đã bàn luận về ngôn ngữ. Tuy nhiên, thời điểm này, người ta nghiên cứu ngôn ngữ không tách khỏi triết học và logic học. Chỉ đến thế kỷ 19, khuynh hướng tâm lý học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học. Người đầu tiên sáng lập ra trường phái ngôn ngữ học tâm lý là Shteintal, ông đã đưa ra học thuyết ngôn ngữ là hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc.
Với thuyết Tâm lý liên tưởng, V.Vunt đã nghiên cứu lý thuyết về dạng thức bên trong của từ, về các loại ý nghĩa chuyển đổi của từ, về nghĩa hiện có của từ và câu, về mối liên tưởng có tính ngữ đoạn (trích trong Bùi Thị Thanh, 2005). Đến năm 1953, “Tâm lý học ngôn ngữ” với tư cách là một ngành học mới chính thức được xác lập tại trường đại học Indiana (Mỹ) và phát triển theo hai hướng chính: Khuynh hướng tâm lý học ngôn ngữ Mỹ: xuất phát từ Tâm lý học Hành vi và các lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại, lý thuyết thông tin về tìm hiểu quá trình mã hoá và giải mã phát ngôn. Khuynh hướng này coi con người là thụ động tiếp nhận thông tin từ bên ngoài, gạt bỏ tính tích cực của nhận thức và khả năng sáng tạo của chủ thể. Sau này quan điểm ngôn ngữ toàn vẹn đã xem hoạt động ngôn ngữ là quá trình mã hoá và giải mã phát ngôn trong mối quan hệ với quá trình tư duy của con người.
Khuynh hướng tâm lý học ngôn ngữ Xô Viết: xuất phát từ quan điểm Mác – Lê nin, không tách rời thực tiễn xã hội và thuyết hoạt động, chủ yếu dựa trên ba luận điểm cơ bản: thứ nhất, luận điểm về bản chất xã hội của tâm lý con người; thứ hai, luận điểm về tính tích cực của chủ thể đối với thực tiễn xung quanh; thứ ba, luận điểm về tác động xã Luan van 7 hội đối với hoạt động nói năng và những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể của sự tồn tại ngôn ngữ (Hồ Lam Hồng, 2002). Tiêu biểu cho quan điểm về bản chất xã hội của tâm lý người, có thể kể đến L. Derzhavin;… những nhà nghiên cứu về tính chất xã hội của ngôn ngữ, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, sự phụ thuộc qua lại giữa các thuộc tính của ngôn ngữ… Vygotsky trong cuốn "Tư duy và ngôn ngữ" đã lập luận rằng hoạt động tinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải chỉ là hoạt động học tập của một cá thể (trích trong Bùi Thị Thanh, 2005). Có thể thấy rằng, Tâm lý học ngôn ngữ là nghiên cứu về ngôn ngữ và tâm trí, nó là một chủ đề liên kết tâm lý học và ngôn ngữ học.
Mục tiêu chung các nhà tâm lý học ngôn ngữ là tìm hiểu về các cấu trúc và quy trình làm nền tảng khả năng nói và hiểu ngôn ngữ của con người. Nhìn lại các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về ngôn ngữ ở giai đoạn này chúng ta có thể thấy các tác giả đã nghiên cứu theo cách tiếp cận trong nghiên cứu tâm lý ngôn ngữ như sau: Tiếp cận theo hướng hành vi Theo Skinner, không cần dùng đến bản năng phức tạp hay cơ chế thần kinh nào để giải thích sự hình thành ngôn ngữ. Chỉ cần sự quan sát có hệ thống về những sự kiện trong thế giới bên ngoài đã khiến cho chủ thể thốt ra âm thanh. Nghiên cứu ngôn ngữ của Skinner bắt nguồn từ nghiên cứu trên chuột và bồ câu theo cách “thử và sai”, có thể được huấn luyện thông qua tiến trình tạo tác.
Skinner cho rằng cũng nhờ cơ chế này mà một loạt hành vi học hỏi của con người được diễn ra, bao gồm việc học ngôn ngữ thông qua việc xác định được “các biến số kiểm soát”, thứ giúp con người dự đoán được những lời nói cụ thể (trích trong Jean Aitchison, 1977). Theo cách tiếp cận này, ngôn ngữ bao gồm ba thành tố - các kích thích phân biệt, phản ứng và sự củng cố. Trong lời nói có chủ đích, các hành vi ngôn từ dưới một hình thức nào đó, bắt nguồn từ sự thiếu thốn hoặc các kích thích gây khó chịu (chẳng hạn đói, khát), được tiếp nối bằng một kết cục mang tính củng cố (chẳng hạn được cung cấp thức Luan van 8 ăn, nước uống). Các hành vi tạo tác ngôn ngữ khác chịu sự kiểm soát của các kích thích phân biệt và tác nhân củng cố thường gặp.
Trong một phát ngôn, kích thích phân biệt chính là việc nghe thấy âm thanh, phản ứng chính là việc phát ra âm thanh, còn sự củng cố chính là sự tương hợp về hình thức giữa kích thích và phản ứng. Các phát ngôn có độ lớn khác nhau, chẳng hạn âm vị, âm điệu, âm tiết, từ, cụm từ, câu (Skinner, 1957/1992, tr. 61-63; trích trong Matos & Maria de Lourdes, 2006). Skinner tập trung nghiên cứu hành vi ngôn ngữ của con người và coi hành vi ngôn ngữ như là sự thực thi ngôn ngữ.
Theo đó, hành vi ngôn ngữ bao gồm các thành phần sau: Hành vi yêu cầu bằng ngôn ngữ, hành vi bắt chước ngôn ngữ, hành vi ghi nhớ hình ảnh ngôn ngữ, hành vi thực hiện các yêu cầu bằng thị giác, hành vi hiểu ngôn ngữ, hành vi nói nối tiếp lời nói, hành vi diễn đạt ngôn ngữ. Những thành phần này có mối quan hệ phụ thuộc với nhau và rất cần thiết để hình thành ngôn ngữ cho trẻ (trích trong Dương Thị Mỹ Lành, 2017). Tiếp cận theo hướng cấu trúc ngôn ngữ Trong quá trình nghiên cứu của mình, Chomsky phát hiện ra có rất nhiều hiện tượng về ngữ pháp mà chủ nghĩa cấu trúc và chủ nghĩa hành vi nếu dùng những quan điểm “kích thích – phản ứng” hoặc “bắt chước – ghi nhớ” không thể giải thích hợp lý được. Chomsky tin rằng, khả năng tiếp nhận mang tính bẩm sinh, và khi mỗi đứa trẻ được sinh ra, khả năng này đã được hiện diện.
Trong nghiên cứu của mình Chomsky (1965) đã đưa ra khái niệm “Năng lực ngôn ngữ” với ý nghĩa là kiến thức của người nói - người nghe về ngôn ngữ của mình mà thực chất là kiến thức cú pháp của tiếng mẹ đẻ. Theo ông, vì năng lực ngôn ngữ tiềm ẩn bên trong không thể quan sát trực tiếp được, nên ta chỉ có thể quan sát được một cách gián tiếp thông qua hành vi ngôn ngữ. Do vậy, Chomsky cho rằng đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là năng lực ngôn ngữ (tức kiến thức về cú pháp) chứ không phải hành vi ngôn ngữ. Thành phần của một cấu trúc ngữ pháp gồm: cú pháp, âm vị và ngữ nghĩa.
Với kiến thức bẩm sinh về ngữ pháp phổ quát mà đứa trẻ tiếp nhận ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ, thông qua kinh nghiệm. trong thời gian ngắn. Tuy rằng lý thuyết của Chomsky đưa ra có những hạn chế là ông đã không Luan van 9 nhìn thấy sự gắn kết cơ bản giữa ngôn ngữ và giao tiếp, giữa nghĩa và các hành động lời nói, thì không ai phủ nhận ảnh hưởng của nó (trích trong Lưu Nhuận Thanh, 2004). Tiếp cận theo hướng nhận thức Tiếp cận theo hướng Nhận thức là hướng tiếp cận được rất nhiều nhà tâm lý học quan tâm, nổi bật trong số đó là Jean Piaget.
Tác giả cho rằng, ở đứa trẻ bình thường, ngôn ngữ xuất hiện đồng thời với những hình thức khác của tư duy ký hiệu. Chính điều này làm cho tư duy tách khỏi hành động và do đó tạo ra biểu tượng. Ông cũng thừa nhận rằng, trong quá trình hình thành ấy, ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng vì trái với những công cụ ký hiệu khác (những hình ảnh…) được cá nhân tạo ra theo những nhu cầu, ngôn ngữ đã được xây dựng về mặt xã hội và đối với các cá nhân học để sử dụng nó trước khi góp phần làm phong phú nó, ngôn ngữ chứa đựng sẵn một tập hợp với những công cụ nhận thức (những liên hệ, những phân loại…) phục vụ cho tư duy. Do đó, ngôn ngữ là biểu hiện rõ ràng nhất của biểu tượng hóa, ngôn ngữ phát triển nhanh trong giai đoạn các chức năng biểu tượng biểu hiện rõ ràng.
Cụ thể đến 3 - 4 tuổi, trẻ em có khả năng kể chuyện, hỏi chuyện, trình bày việc làm của mình, xét đoán, suy luận, làm cho người ta có cảm tưởng tư duy của chúng cũng giống như của người lớn. Ở giai đoạn này, nổi bật lên một đặc tính chung mà Jean Piaget gọi là duy kỉ, tức là lấy mình làm trung tâm. Đến 6 -7 tuổi trẻ em bắt đầu thoát khỏi ảnh hưởng của tính duy kỉ để chuyển sang giai đoạn hình thành những thao tác tư duy cụ thể, ngôn ngữ trẻ cũng trở nên linh hoạt hơn nhờ hình thành các thao tác cụ thể. Nhờ đó, trẻ lý giải các hiện tượng xã hội tốt hơn, trẻ cũng quan tâm đến những vấn đề về đạo đức và tạo lập các mối quan hệ đa dạng: trong gia đình, nhóm cùng trang lứa và trong xã hội rộng lớn.
Từ sau 11 tuổi, trẻ có khả năng khái quát hoá các ý tưởng và cấu trúc các điều trừu tượng, trẻ có thể suy luận dựa trên các mệnh đề, các giả thuyết và đưa ra kết luận từ những giả thuyết hơn là dựa hoàn toàn vào quan sát thực tế, được gọi là suy nghĩ suy luận - giả thuyết (trích trong Hoàng Thị Quang, 2014). Tiếp cận theo hướng tương tác xã hội Luan van 10 Vygotsky (1987), là nhà tâm lý học đầu tiên ghi nhận tầm quan trọng của ngôn ngữ cá nhân. Theo ông, ngôn ngữ cá nhân là điểm chuyển tiếp giữa ngôn ngữ xã hội và ngôn ngữ bên trong, là thời điểm phát triển mà ngôn ngữ và tư duy hợp nhất để tạo thành suy nghĩ có lời. Vygotsky tin rằng ngôn ngữ phát triển thông qua tương tác xã hội nhằm phục vụ những mục đích giao tiếp (trích trong http://hanhlangtamly.
- Ngôn ngữ cá nhân (đặc trưng cho trẻ 3 tuổi) – ngôn ngữ hướng đến bản thân và có chức năng trí tuệ.