Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT. Thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
11 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Chúng ta đang sống trong một kỉ nguyên của khoa học và công nghệ. Isaac Newton từng nói “Điều chúng ta biết là một giọt nước. Điều chúng ta không biết là cả một đại dương".
Để tìm hiểu về “đại dương” kiến thức mênh mông ấy và phù hợp với cuộc sống kỉ nguyên công nghệ thì chúng ta không thể bằng lòng với kiến thức hạn hẹp trong những năm học ngồi trên ghế nhà trường mà phải học tập suốt đời. NCKH là công việc lấy đi nhiều công sức và thời gian của chúng ta nhưng qua NCKH chúng ta có thể thấy được một phần của đại dương kiến thức mênh mông, NCKH giúp chúng ta học được, biết được nhiều điều hữu ích cho chính cuộc sống của mình và hơn thế nữa đó là cách để làm cho mỗi chúng ta trở nên có giá trị hơn đối với xã hội. NCKH đóng vai trò sứ mệnh to lớn trong quá trình giảng dạy ở trường THPT để gắn liền kiến thức với thực tiễn của cuộc sống, là căn cứ để nhà trường cập nhật, thay đổi phương pháp và nội dung giảng dạy nhằm đưa nền giáo dục hội nhập với thế giới. Nghiên cứu ở nước ngoài Nhà tâm lý Mỹ Carl Rogech ra đời cuốn “Phương Pháp dạy và học hiệu quả” đã đề cao phương pháp dạy học hình thành kĩ năng tự học cho sinh viên như cung cấp tài liệu, chia nhóm, phương pháp hướng dẫn người học tự nghiên cứu tài liệu, tự hoạch định mục tiêu, tự xem xét nguồn tài liệu, tự đánh giá việc học của mình… (Roger (Cao Đình Quát), 2001).
Luật giáo dục cao đẳng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, trong chương 1 điều 10 có ghi : “Nhà nước đảm bảo tự do NCKH, sáng tạo văn học…trong trường cao đẳng theo đúng pháp luật’’ coi đây là biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục. 12 Trong chiến lược của Bộ giáo dục Hoa Kỳ năm 1998-2000 xác định những vấn đề ưu tiên cho sinh viên NCKH. Tác giả Francesco Cordasco và Eliiots S. Galner trong tác phẩm Research and Report Writing đã chỉ ra những kĩ năng cụ thể để hình thành NCKH cho sinh viên.
(Francesco Cordasco, 1963) Trong tài liệu ‘ The management of a student research’’ của tác giả Keith Howard và John A.Sharp ( singapore năm 1983) với nội dụng giúp sinh viên biết cách quản lý kế hoạch nghiên cứu, các vấn đề về chọn lựa đề tài, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, tâp hợp, phân tích, xử lý và đánh giá kết quả NCKH. (Keith Howard, 1983) Nội dung cuốn sách “Research skills for students” năm 1996 , tác giả Brian Allison đã nhấn mạnh các lý thuyết về NCKH, cung cấp kĩ năng thết kế một cuộc điều tra, thiết kế một bảng hỏi và những kĩ thuật khi sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. (Brian Allison, 1996) Năm 1990, Gary Anderson (New York), trong tác phẩm “ Fundamentals of educational research, tác giả chú trọng đến việc tìm tòi các nguyên tắc, phương pháp cũng như công cụ, kỹ thuật NCKH để huấn luyện cho sinh viên. (Anderson, Gary, 1990) Trong tài liệu hơn 1000 trang của sổ tay quốc tế Educational Research, Methodology and Measurement do John P.Keeves, Australia, tập thể tác giả đã giới thiệu các quá trình và phương pháp nghiên cứu giáo dục, đặc biệt là các thủ tục và kĩ thuật nghiên cứu, đo lường và sử dụng máy tính và các thiết bị kĩ thuật trong NCKH.Keeves, 1996) Theo tác giả Yael Friedler & PinchasTamir, trên trang Web https://doi.9654837 đã khẳng định ở trường THPT ở Israel có Dạy các khái niệm cơ bản về nghiên cứu khoa học cho học sinh trung học.
Để cải thiện khả năng của các học sinh trung học, một mô-đun ban đầu có tên “Các khái niệm cơ bản về nghiên cứu khoa học” đã được phát triển. Mô-đun này 13 bao gồm các lời mời để điều tra và một loạt các bài tập dẫn sinh viên dần dần từ đơn giản đến phức tạp hơn và một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề rất phức tạp. Các khái niệm về nghiên cứu khoa học được phát triển trong bối cảnh lịch sử của họ để sinh viên có được hình ảnh thực tế về nghiên cứu khoa học cũng như khả năng làm việc trong việc áp dụng các kỹ năng tìm hiểu vào việc giải quyết các vấn đề mới lạ. Từ đó, học sinh có thể áp dụng các kỹ năng điều tra cơ bản như xác định vấn đề, xây dựng giả thuyết và thiết kế thí nghiệm.
(Yael Friedler & PinchasTamir, 2010) Theo tác giả Mehmet Aydeniz, Kristen Baksa & Jane Skinner trong Tạp chí Khoa học Giáo dục và Công nghệ tập 20, trang 40 (2011) có bài viết về: ”Hiểu về tác động của chương trình nghiên cứu khoa học dựa trên học việc đối với học sinh trung học”. Mục đích của nghiên cứu này là để hiểu tác động của chương trình học nghề đối với học sinh trung học. Hiểu về bản chất của yêu cầu khoa học. Hiểu biết về khoa học và nghiên cứu khoa học được thu thập thông qua bảng câu hỏi mở.
Các phát hiện cho thấy rằng mặc dù tham gia vào nghiên cứu khoa học đích thực đã giúp những người tham gia phát triển năng lực trong các phương pháp thử nghiệm (Kristen Baksa & Jane SkinnerMehmet Aydeniz, 2011) Theo tác giả Lesley F. Roberts và Richard J. Wassersug trong tạp chí Nghiên cứu Khoa học Giáo dục tập 39, trang251 Từ256 (2009) ,các tác giả cũng thực hiện đã kiểm tra một chương trình nghiên cứu khoa học mùa hè thực hành cho học sinh trung học kéo dài từ năm 1958 đến năm 1972. Họ so sánh những người tham gia chương trình đó với sinh viên khoa học chỉ bắt đầu trải nghiệm nghiên cứu thực hành một lần ở trường đại học.
Kết luận chỉ ra rằng những học sinh quan tâm đến khoa học và có cơ hội tham gia nghiên cứu khoa học ban đầu trong khi ở trường trung học có nhiều khả năng hơn trong việc bước vào và duy trì sự nghiệp trong khoa học so với những sinh viên mới NCKH khi vào đại học. Các tác giả đã cho thấy rằng các chương trình nghiên cứu khoa học trung học thực hành nhiều hơn có thể giúp tăng số lượng học sinh tham gia và duy trì sự nghiệp khoa học. 14 Tác giả Constance Hammond, David Karlin, Jean Thimonier ở Pháp có bài viết “Kinh nghiệm nghiên cứu khoa học sáng tạo cho trường trung học” mong muốn cung cấp một phong cách giảng dạy cho học sinh nghiên cứu khoa học bằng cách nhen nhóm bản chất tò mò, trí tưởng tượng, sáng tạo. Giúp học sinh trung học hiểu ý nghĩa của khoa học, cách khám phá thế giới theo cách các nhà khoa học làm việc.
Bài viết có đề cập đến nghiên cứu xây dựng cầu nối giữa trường trung học sinh viên và các nhà khoa học, phòng thí nghiệm ở hội đồng nghiên cứu y học Pháp ở Đại học Aix-Marseille, Pháp. Học sinh có thể tham gia vào dự án thu nhỏ của nghiên cứu. Chiến lược này giúp học sinh học hỏi các khía cạnh khác nhau của nghiên cứu, bao gồm suy nghĩ phức tạp và phê phán, phương pháp thí nghiệm, và làm việc nhóm,…. (Constance Hammond, David Karlin, Jean Thimonier, 2010) Tại các trường phổ thông của Hàn Quốc hiện nay, các giáo viên đều được tham gia các lớp huấn luyện, đào tạo chuyên về khoa học và hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học và được cấp chứng chỉ về nghiên cứu.
Do đó, giáo viên có thể tự tin huấn luyện cho các em học sinh nghiên cứu khoa học và giúp các em biến ý tưởng thành hiện thực. Các viện nghiên cứu khoa học có trách nhiệm hỗ trợ các chương trình nghiên cứu của người dân, trong đó có cả việc hỗ trợ cho các học sinh trung học nghiên cứu. Trong khi việc nghiên cứu khoa học trong các trường phổ thông tại Hàn Quốc luôn được hỗ trợ và dồn nhiều nguồn lực để “ươm mầm” (Hà Lan, 2019) Ở nước ngoài, nhà nước cũng như các nhà giáo dục luôn đề cao vai trò của NCKH trong sinh viên ở các trường cao đẳng và đại học, cũng như việc NCKH ở học sinh THPT. Qua nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho thấy rằng các tác giả không những quan tâm đến phương pháp luận về NCKH của sinh viên mà còn rất chú trọng việc tổ chức, kĩ năng NCKH để trang bị cho sinh viên.
Có rất nhiều nghiên cứu về phương pháp, cách thức giảng dạy, cách thức hướng dẫn học sinh THPT để tăng cường cho học sinh THPT khả năng tư duy sáng tạo trong bước đầu NCKH. Ở các nước phát triển, việc đầu tư cho bước đầu NCKH của học sinh THPT rất được ưu tiên. Nghiên cứu trong nước Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến khoa học công nghệ, Người cho rằng khoa học công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp đấu tranh và giải phóng dân tộc. Muốn xây dựng và phát triển đất nước thì phải quan tâm tới khoa học công nghệ, Người không ngừng chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật để phục vụ nước nhà.
(Hồ Chí Minh, 1996) Từ nhận thức đúng đắn về vai trò quyết định của công tác quản lý hoạt động NCKH mà đã có các nhà khoa học đã tiến hành các nghiên cứu về tính hiệu quả của nó qua các đề tài như Năm 1991, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục được Bộ GD&ĐT giao chủ trì đề tài: “Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH và lao động sản xuất trong nhà trường” mã số B91-38-14 do Vũ Tiến Trinh làm chủ nhiệm. Năm 1995 Viện nghiên cứu phát triển giáo dục được Bộ GD&ĐT giao chủ trì đề tài: “Điều tra đánh giá hiện trạng tiềm lực khoa học và công nghệ của các trường đại học và cao đẳng Việt Nam” đề tài độc lập cấp Bộ, do Thân Đức Hiền làm chủ nhiệm. Phan Huy Lê trong bài viết việc bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên đại học, đã đề xuất cách bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu cho sinh viên khi giảng dạy là kết hợp giảng kiến thức với phương pháp để họ không chỉ nâng cao kiến thức mà còn được rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp khoa học.