chương 1 sẽ tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ tự ki ở trên thé giới cũng như Việt Nam và đưa ra một số lí thuyết làm nền tảng cho luận án. Chương 2: Đặc điểm vốn từ của trẻ tự kỉ từ 3 đến 6 tuỗi Nội dung chương 2 sẽ phân tích đặc điểm về vốn từ của trẻ tự kỉ (số lượng từ, từ loại) cũng như phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển vốn từ của trẻ tự kỉ trong giai đoạn này. Chương 3: Đặc điểm phát ngôn của trẻ tự kỉ từ 3 đến 6 tuổi Nội dung chương 3 sẽ phân tích đặc điểm phát ngôn của trẻ tự kỉ trong giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi bao gồm các đặc điểm về câu trúc phát ngôn, mục đích phát ngôn và mức độ chủ động sử dụng phát ngôn trong giao tiếp của trẻ. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÍ THUYET 1.
Dẫn nhập Trong chương này, chúng tôi sẽ tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ tự kỉ trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Đó là các vấn đề về đặc điểm ngôn ngữ của trẻ tự kỉ (đặc điểm về khả năng tiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ, đặc điểm về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và sử dụng ngôn ngữ của trẻ tự kỉ); các công cụ chan đoán va sàng lọc ngôn ngữ cho trẻ tự ki; các phương pháp trị liệu ngôn ngữ cho trẻ tự ki và một số nhân tô ảnh hưởng đến quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ tự kỉ (mức độ tự kỉ, thời gian phát hiện và can thiệp sớm, sự hợp tác của gia đình trong quá trình can thiệp, nhận thức của cộng đồng về tự ki). Dé khảo sát và phân tích về đặc điểm vốn từ cũng như phát ngôn của trẻ tự kỉ trong chương 2 và chương 3, trong chương này chúng tôi đưa ra một số cơ sở lí thuyết nền tảng đó là: khái niệm tự ki, đặc điểm của trẻ tự kỉ, khái niệm từ trong tiếng Việt, từ loại trong tiếng Việt, khái niệm vốn từ và đặc điểm vốn từ của trẻ em Việt Nam, khái niệm phát ngôn và đặc điểm phát ngôn của trẻ em Việt Nam. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ tự kỉ trên thế giới 1. Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ tự kỉ Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ tự kỉ hiện nay thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả trên thế giới. Những nghiên cứu này tập trung tìm hiểu cả đặc điểm về khả năng tiếp nhận (hiểu) lẫn kha năng biểu đạt (diễn đạt) ngôn ngữ của trẻ tự kỉ cũng như các đặc điểm về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và sử dụng ngôn ngữ của trẻ tự kỉ. Đặc điểm về khả năng tiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ của trẻ tự kỉ Các nghiên cứu về khả năng tiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ của trẻ tự kỉ đều cho rằng, trẻ tự kỉ có sự suy giảm cả về khả năng tiếp nhận lẫn khả năng biểu đạt ngôn ngữ so với trẻ bình thường.
Trẻ mặc chứng tự kỉ có sự chậm trễ rõ rệt trong cả ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ biểu đạt so với trẻ bình thường cùng lứa tuôi [Eaves & Ho, 2004; Luyster et al, 2007; Jessica, 2019]. Khả năng tiếp nhận ngôn ngữ của trẻ tự ki rất khó khăn [Kjelgaard et al, 2001]. Đáng chú ý là bên cạnh việc đưa ra những nhận xét khái quát về khả năng tiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ của trẻ tự kỉ, một số nghiên cứu đã dẫn ra minh chứng cụ thể cho thấy sự hạn chế của trẻ tự kỉ trong tiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ. Trong giai đoạn từ 12 đến 18 tháng tuổi, trẻ mắc chứng tự kỉ có khả năng tiếp nhận các từ, cụm từ ít hơn so với trẻ bình thường [Mitchell, 2006].
Khả năng biểu đạt ngôn ngữ của trẻ tự ki có nhiều mức độ khác nhau. Có những trẻ mắc chứng tự kỉ hoàn toàn không phát triển khả năng ngôn ngữ biểu đạt. Những trẻ tự ki có ngôn ngữ nói nhưng khả năng biểu đạt của các em chậm hơn rất nhiều so với trẻ bình thường [Filipek, 2000; Abhijit & Vinay Kumar, 2022]. Trong hai kha năng tiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ, khả năng biểu đạt ngôn ngữ ở trẻ tự kỉ tốt hơn so với khả năng tiếp nhận ngôn ngữ [Charman et al, 2003; Kover et al, 2013] b.
Đặc điểm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và sử dụng ngôn ngữ của trẻ tự kỉ * Đặc điểm về ngữ âm trong ngôn ngữ của trẻ tự ki Những nghiên cứu về ngữ âm của trẻ tự ki chưa nhiều và mới chỉ dừng lại ở những nhận định chung chung hoặc miêu tả một số van đề ngữ âm cụ thể ở trẻ tự kỉ như: trẻ tự kỉ phát triển giọng nói chậm hơn so với trẻ bình thường, trẻ tự kỉ có giọng nói đơn điệu, the thé, kèm theo nhại lời (echolalia) [Charman et al, 1997; Scott, 2012; Jessica, 2019]. Nhiều trẻ tự kỉ nhỏ, khi mới 16 tập nói, khả năng phát âm kém, lời nói của trẻ không rõ ràng và có thé gặp khó khăn khi phát âm một số phụ âm như /1/, /f/, /sh/, hoặc /bl/ [Barbera, 2007]. * Đặc điểm về từ vựng trong ngôn ngữ của trẻ tự kỉ Về đặc điểm từ vựng của trẻ tự kỉ, các nghiên cứu trên thế giới không chỉ quan tâm đến sự phát triển số lượng từ vựng của trẻ mà còn quan tâm đến khả năng tiếp nhận nghĩa từ vựng ở trẻ tự kỉ trong tương quan so sánh với trẻ bình thường. Hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất khi cho rằng số lượng từ vựng cũng như khả năng tiếp nhận về mặt ngữ nghĩa của trẻ tự kỉ chậm hơn nhiều so với trẻ bình thường.
Năm 2007, Veronica Smith, Pat Mirenda Anat Zaidman và Zait đã khảo sat 35 trẻ tự ki (từ 20 — 71 tháng tuổi) có vốn từ biểu dat ban đầu ít hon 60 từ. Vốn từ của trẻ được đo lại sau can thiệp ở ba thời điểm 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng. Kết quả cho thấy, khả năng phát triển vốn từ của các trẻ tự kỉ là khác nhau và mỗi giai đoạn khác nhau số lượng từ vựng tăng lên cũng không giống nhau ở mỗi trẻ [Veronica et al, 2007]. Bên cạnh những nghiên cứu về số lượng từ của trẻ tự kỉ, khả năng tiếp nhận nghĩa của từ cũng được nhiều tác giả quan tâm.
Về mặt ngữ nghĩa, trẻ tự kỉ đa số chỉ hiểu được nghĩa đen, nghĩa logic, trẻ rất khó tiếp nhận được những từ vựng có nghĩa trừu tượng [Chanchaochai & Nattanun, 2019]. Khả năng tiếp nhận nghĩa từ vựng ở trẻ tự kỉ rất chậm [Groen et al, 2008: Shipley & McAfee, 2009; Eigstiel et al, 2011]. Trẻ tự ki thường khó khăn khi sử dụng đúng tên người khác và khó khăn trong việc hiểu nghĩa khái quát của từ [Shipley & McAfee, 2009]. Trẻ tự kỉ có xu hướng sử dụng những từ vô nghĩa hoặc mang phong cách riêng [Ioannis et al, 2022].
* Đặc điểm về ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ tự ki 17 Các nghiên cứu về đặc điểm ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ tự kỉ cho thấy, trẻ tự kỉ hay mắc lỗi sử dụng ngữ pháp hơn trẻ bình thường và ít sử dụng những mẫu câu phức tap [Sandra & Giampiero, 1977; Shipley & McAfee, 2009; Cecilia et al, 2017; Jessica, 2019]. Một số lỗi ngữ pháp được chi ra là: trẻ tự kỉ thường sử dụng đảo ngược đại từ, trẻ thường sử dụng ngôi thứ hai hoặc thứ ba thay cho đại từ ngôi thứ nhất. Ví dụ: khi trẻ nói “Bạn muốn uong nước” (You want to drink water) thì câu này có nghĩa là “Tôi muốn uống nước” (I want to drink water). Trẻ tự kỉ gặp khó khăn lớn về hình thái học như số nhiều, sở hữu và thì của động từ [Stone et al, 1998; Paul & Wilson, 2008; Saeide & Zahra, 2019; Jessica, 2019; Nattanun, 2019].
Trẻ tự ki it khi sử dụng câu hỏi va trẻ dé dang hơn trong việc trả lời những câu hỏi có dạng có/không (so với trả lời những câu hỏi có từ dé hỏi). Trẻ tự ki không thé tự mình khái quát hóa một quy tắc ngữ pháp ngoài những gì được dạy [Minshew et al, 2002; Shipley & McAfee, 2009]. Cũng giống như khả năng về ngữ âm, từ vung, kha năng ngữ pháp của trẻ tự ki cũng phát triển chậm hơn so với trẻ bình thường. Khi 12 tháng tuổi, trẻ bình thường đã có thé sử dụng câu 1 từ và giai đoạn này kéo dài từ 3 — 6 tháng.
Trong khi đó, trung bình phải đến 30 tháng tuổi, trẻ tự ki mới có thé sử dung câu 1 từ và giai đoạn này kéo dải từ 6 — 12 tháng [Jessica, 2019]. * Đặc điểm về sử dụng ngôn ngữ của trẻ tự kỉ Các nghiên cứu về khả năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của trẻ tự ki trên thé gidi về cơ bản mới chi dừng lại ở việc đưa ra những nhận định chung và chưa mang tính hệ thống. Trẻ tự kỉ có biểu hiện chậm phát triển giao tiếp cũng như ít sử dụng ngôn ngữ nói và cử chỉ trong giao tiếp [Mitchall et al, 2006; Chapman et al, 2006; Paul & Wilson, 2008]. Khả năng giao tiép ở trẻ tự kỉ rất hạn chế, trẻ thường sử dụng các hành vi yêu cầu và phản đối, rất hiêm khi sử dụng các hành vi đê tương tác xã hội, bình luận và duy trì cuộc 18 thoại.
Trẻ tự kỉ thường sử dụng các phương tiện giao tiếp bat thuong, vi du, trẻ thường sử dung tay của người khác như một công cụ giao tiếp. Trẻ tự ki cũng có xu hướng sử dụng ngôn ngữ rập khuôn và theo phong cách riêng so với trẻ bình thường. Vi dụ, trẻ thường lam dụng những cụm từ nghe được trên ti vi vao cuộc thoại [Paul & Wilson, 2008; Scott, 2012]. Trẻ tự kỉ thường chỉ hiểu được nghĩa cơ bản của từ và nghĩa đen trong câu nói mà không hiểu được nghĩa bóng hay những câu nói bông đùa, ngụ ý của người khác [Bedford et al, 2013].
Đặc điểm về sử dụng ngôn ngữ của trẻ tự kỉ còn được tìm hiểu thông qua việc so sánh sự giống nhau và khác nhau trong giao tiếp của trẻ tự kỉ với trẻ bình thường ở từng giai đoạn. Trong giai đoạn đầu (giai đoạn sơ sinh), trẻ bình thường và trẻ tự kỉ có sự phát triển tương đồng khi trẻ đều biết khóc, biết cười để thể hiện cảm xúc, mong muốn. Sang giai đoạn thứ hai, trẻ bình thường đã có sự giao tiếp bằng cử chỉ, giọng nói và ánh mắt. Trong khi đó, ở trẻ tự kỉ không xuất hiện ngôn ngữ cũng như ánh mắt trong giao tiếp.