Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày khái quát lí do chọn đề tài nghiên cứu. Sau đó sẽ xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lí luận.
Chương này sẽ trình bày các khái niệm cơ bản liên quan đến hành vi mua của người tiêu dùng, thị trường mì ăn liền ở Tp. Qua đó sẽ đề xuất các mô hình nghiên cứu cho phù hợp. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày những cách thức, phương pháp thực hiện nghiên cứu, điều chỉnh thang đo, cách thức phân tích dữ liệu nghiên cứu.
8 Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này trình bày các thông tin về mẫu khảo sát, kiểm định các thang đo, các gải thuyết nghiên cứu, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị. Ở chương cuối cùng, bài tiểu luận tóm tắt các kết quả nghiên cứu được, đồng thời đề xuất ra một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao khả năng thu hút, quyết định mua của khách hàng và nêu lên những hạn chế, những khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm mì ăn liền Theo Wikipedia định nghĩa mì ăn liền như sau: Mì ăn liền hay ăn liền, còn gọi là mì tôm (thông dụng trong tiếng Việt miền Bắc), là một sản phẩm ngũ cốc ăn liền, dạng khô, được đóng gói cùng gói bột xúp, dầu gia vị, nguyên liệu sấy khô,… Gia vị thường được đóng thành từng gói riêng hoặc được rót sẵn chung với vắt mì (mì ly).
Khi ăn chỉ cần chế nước sôi vào hoặc có thể ăn sống. Sản phẩm này đặc trưng bằng việc sử dụng quá trình gelatin hóa sơ bộ và khử nước bằng cách chiên (mì chiên) hoặc sấy (mì không chiên) .2 Khái niệm người tiêu dùng Dưới góc độ kinh tế, theo từ điển Kinh tế học hiện đại định nghĩa: “Người tiêu dùng là bất cứ đơn vị kinh tế nào có nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng…, thông thường, người tiêu dùng được coi là một cá nhân nhưng trên thực tế, người tiêu dùng có thể là cơ quan, các cá nhân và nhóm cá nhân. Trong trường hợp cuối cùng, điều đáng lưu ý là, để có quyết định, đơn vị tiêu dùng là hộ gia đình chứ không phải là cá nhân” Tại Việt Nam, khái niệm pháp lý người tiêu dùng được đề cập đến đầu tiên trong Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999. Sau này, khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 được ban hành thay thế Pháp lệnh, nhiều nội dung đã được sửa đổi, bổ sung.
Tuy nhiên, khái niệm “Người tiêu dùng” vẫn được quy định như trong Pháp lệnh. Theo đó, Khoản 1 Điều 3 quy định: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”.3 Quy trình ra quyết định mua Quy trình ra quyết định mua gồm 5 giai đoạn: - Nhận biết nhu cầu: 9 Nhu cầu được hình thành khi khách hàng hay người tiêu dùng nhận ra sự khác biệt giữa thực tế và mong muốn của họ. Nhu cầu này có thể bị kích thích bởi các kích thích bên trong (nhu cầu cơ bản của con người ví dụ như đói hoặc khát, khi các kích thích này tác động đến một mức độ nào đó buộc con người phải thỏa mãn chúng) và các kích thích bên ngoài (ví dự như các biển quảng cáo, băng rôn,.) - Tìm kiếm thông tin Khách hàng tìm kiếm thông tin nhằm tìm ra sản phẩm/dịch vụ mà họ cho rằng là tốt nhất. Các nguồn thông tin có thể bao gồm nhiều nguồn như nguồn thông tin thương mại (đến từ các chuyên gia tiếp thị), nguồn tin cá nhân (người thân, bạn bè, hàng xóm,.) - Đánh giá các thay thế Ở giai đoạn này, người mua đánh giá các thương hiệu/sản phẩm khác nhau dựa trên nhiều thuộc tính nhằm mục đích chính là tìm hiểu xem những thương hiệu/sản phẩm với những thuộc tính này có thể mang lại lợi ích mà mình đang tìm kiếm hay không Hệ thống đánh giá sẽ bao gồm các quy tắc sau: Quy tắc đánh giá dựa trên chức năng kinh tế và quy tắc tâm lý cảm xúc.
Quy tắc đánh giá về hình ảnh nhãn hàng khắc ghi trong tâm trí người tiêu dùng. Quy tắc đánh giá dựa trên thái độ đối với nhãn hàng và sản phẩm. Quy tắc đánh giá dựa trên mức độ cấp thiết của nhu cầu và quyết định mua. - Quyết định mua Giai đoạn này bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: Yếu tố thứ nhất là quan điểm của người khác và mức độ sẵn lòng nghe theo các quan điểm này của người mua Yếu tố thứ hai là các tình huống bất ngờ, không thể dự đoán được như suy thoái kinh tế, suy giảm tiền lương,.
- Hành vi sau mua Các hành vi sau khi mua của khách hàng và cách giải quyết sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến việc giữ khách hàng. Trong ngắn hạn, khách hàng sẽ tiến hành so sánh kỳ vọng về sản phẩm với tính hiệu quả mà nó thực sự mang lại và sẽ cảm thấy hài lòng (nếu tính hiệu quả của sản phẩm vượt xa kỳ 10 vọng) hoặc không hài lòng (nếu tính hiệu quả của sản phẩm không được như kỳ vọng) Khách hàng cảm thấy hài lòng với sản phẩm thì họ sẽ nảy sinh một lòng trung thành với thương hiệu và rồi giai đoạn tìm kiếm thông tin cũng như đo lường - đánh giá sẽ diễn ra một cách nhanh chóng hoặc thậm chí bị bỏ qua hoàn toàn. Khách hàng cảm thấy không hài lòng với sản phẩm, họ sẽ có hai hướng phản ứng. Ở hướng thứ nhất khách hàng sẽ chọn cách im lặng và âm thầm chuyển sang các thương hiệu khác hoặc họ lan truyền các thông tin xấu về sản phẩm cũng như doanh nghiệp.
Theo hướng thứ hai, khách hàng sẽ phản ứng một cách công khai, họ có thể trực tiếp đòi nhà sản xuất bồi thường hoặc khiếu nại 2.4 Khái niệm hành vi tiêu dùng - Thuật ngữ hành vi người tiêu dùng (Tiếng Anh: Consumer Behavior) là hành vi của người tiêu dùng có thể được định nghĩa là những hành vi của các cá nhân (người tiêu dùng) liên quan trực tiếp đến việc tìm kiếm, đánh giá, lựa chọn, sử dụng và loại bỏ hàng hóa và dịch vụ. Hay nói cách khác, hành vi người tiêu dùng là quá trình và hành động ra quyết định của những người liên quan đến việc mua và sử dụng sản phẩm. - Theo Philip Kotler, “hành vi của người tiêu dùng là việc nghiên cứu cách các cá nhân, nhóm và tổ chức lựa chọn, mua, sử dụng và loại bỏ hàng hóa, dịch vụ, ý tưởng và trải nghiệm để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ” - Theo David L. Della Bitta, “hành vi người tiêu dùng được định nghĩa là quá trình ra quyết định và hành động thực tế của các cá nhân khi đánh giá, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ những hàng hoá và dịch vụ”.2 Nghiên cứu thị trường mì ăn liền ở TP.1 Tổng quan về sản phẩm mì ăn liền và các nhà cung cấp tại Việt Nam - Theo một báo cáo được công bố mới đây của Kantar Worldpanel về thị trường mì ăn liền Việt Nam trong 2 quý đầu năm 2019, bình quân khối lượng tiêu thụ mì ăn liền tính trên đầu người mỗi năm tại khu vực nông thôn lên đến 56 gói; ở TPHCM, Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ là 36 gói.
Đáng chú ý, có đến 90% hộ gia đình Việt Nam sử dụng thực phẩm này và bình quân cứ 2 ngày, thị trường lại đón nhận thêm một thương hiệu mì ăn liền mới. Thị trường mì ăn liền ngày càng đa dạng về mẫu mã, bao bì, mùi vị, ngoài mì gói còn có mì ly, mì tô… với đủ vị chua cay, chay và luôn đặt tính tiện lợi lên hàng đầu để người tiêu dùng dễ dàng sử dụng. 11 - Một số nhà cung cấp mì ăn liền tại Việt Nam Acecook: là đơn vị đứng đầu trong lĩnh vực mì ăn liền, Acecook chính thức gia nhập thị trường vào năm 1995, cho đến nay và vẫn được coi là “đại gia” đầu ngành, khi thị phần chiếm đến 50% ở thành phố và 43% trên cả nước. Sản phẩm được ưa chuộng nhất của Acecook chính là mì ăn liền Hảo Hảo, với lượng cung ứng bình quân gần 3 tỷ gói mỗi năm.
Theo báo cáo hồi tháng 6-2021 của Facts & Factors chỉ ra Acecook Việt Nam là một trong 11 nhà máy sản xuất mì gói lớn nhất khu vực Châu Á. Masan: doanh nghiệp với đa dạng các mặt hàng và có mạng lưới rộng khắp Việt Nam. Theo kết quả khảo sát của Kantar Worldpanel, có khoảng 98% hộ gia đình Việt Nam có sử dụng ít nhất một sản phẩm của Masan. Trong đó, phải kể đến là mì ăn liền Omachi, loại mì này thống trị phân khúc cao cấp với 45% thị phần, mì Kokomi hiện là nhãn hiệu mì bán chạy nhất tại miền Bắc với thị phần 41.
Thị phần mì ăn liền của Masan đứng thứ hai với 27. Asia Food: gắn liền với hình ảnh mì ăn liền Gấu Đỏ, Trứng Vàng. Các nhà máy của Asia Food phân bổ khắp 3 miền và có công suất khoảng 1. Uniben: Uniben hiện đang sở hữu 2 nhà máy thực phẩm lớn và hiện đại bậc nhất, với các thương hiệu trong ngành hàng tiêu dùng nhanh là 3 Miền, Reeva, JOCO và BONCHA.
Trong đó, mì 3 Miền là nhãn hiệu được người tiêu dùng Việt chọn mua hàng đầu liên tục từ 2015 đến nay với trên 27.2 Đối tượng khách hàng - Mì ăn liền là sản phẩm phổ thông nên đa số đối tượng khách hàng là những người tiêu dùng dễ tính. Đối tượng khách hàng mục tiêu là sinh viên, trẻ em, các bà nội trợ và nhân viên văn phòng,… Mì ăn liền với các yếu tố như sự tiện lợi, hương vị, đa dạng về chủng loại và giá cả phù hợp với tất cả các phân khúc người tiêu dùng, từ phân khúc bậc thấp, tầm trung cho đến phân khúc khách hàng cao cấp. - Đối tượng khách hàng miền bắc Người miền Bắc có xu hướng dùng các loại mì đơn giản về khẩu vị , ngon, bổ dưỡng và không sợ nóng. Đối tượng khách hàng miền nam có xu hướng thích vị chua cay với đủ các hương vị tôm, gà, bò,… Với thị trường mì ăn liền đa dạng như hiện nay có thể đáp ứng được đông đảo nguời tiêu dùng trên thị trường.