Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tính tới nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác nhau về các đề tài liên quan đến QSDĐ nói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng. Trong quá trình nghiên cứu các công trình đó, nghiên cứu sinh đã tổng hợp, hệ thống hoá được những công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án như sau: 1. Những công trình nghiên cứu về sở hữu toàn dân về đất đai - Penny Abbott and Jill Stanford (2006), Vietnam Land Administration Project, Nxb.
Department of Geomatics The University of Melboure. Bài viết này phân tích chế độ quản lý nhà nước về đất đai ở Việt Nam với các vấn đề cơ bản là: chủ thể quản lý, nội dung quản lý, đối tượng quản lý. Đặc biệt, bài viết đã đánh giá những ảnh hưởng của chế độ quản lý nhà nước về đất đai đối với QSDĐ. Chế độ quản lý đất đai ảnh hướng rất lớn tới các quy định pháp luật về QSDĐ và việc thực thi trên thực tế.
Có thể đánh giá, đây là những thông tin hữu ích giúp nghiên cứu sinh nghiên cứu nội dung các yếu tố chi phối, tác động tới QSDĐ. - Trần Quang Huy (2008), Pháp luật về hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, Luận án tiến sỹ luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật. Luận án đã giải quyết một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất – một trong những hình thức sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Trong luận án, tác giả đã nhấn mạnh hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất là một sản phẩm tất yếu của việc công nhận hàng hoá QSDĐ, góp phần xoá bỏ sự bao cấp trong quan hệ sử dụng đất tồn tại ở nước ta trước đây và đồng thời thể hiện tính hưởng lợi về mặt kinh tế đối với đại diện chủ SHTD về đất đai.
- Trần Thị Thanh Hợp (2010), Những vấn đề pháp lý trong hoạt động cho thuê đất của nhà nước, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội. Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm, cơ sở ra đời và quá trình ra đời của pháp luật về cho thuê đất của nhà nước; phân tích, đánh giá thực trạng từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về cho thuê đất của nhà nước. Đáng chú ý trong luận văn tác giả đã nhìn nhận hình thức cho thuê đất ra đời gắn liền với việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở nước ta, xác lập nguyên tắc công khai, minh bạch trong việc tiếp cận đất đai giữa các chủ thể có nhu cầu sử dụng đất. - Trần Quốc Toản (chủ biên) (2013), Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai – Lý luận và thực tiễn, Nxb.
Chính trị quốc gia. Cuốn sách này đã trình bày khái quát thực trạng luan an 9 quan hệ sở hữu đất đai ở nước ta trong cơ chế quan liêu, bao cấp và phân tích một cách sâu sắc nội dung của sự vận động quan hệ ruộng đất trong cơ chế thị trường hiện nay. Từ việc phân tích, đánh giá cấu trúc, bản chất, các hình thái vận động của quan hệ sở hữu đất đai ở nước ta, theo tác giả việc tiếp tục đổi mới quan hệ sở hữu đất đai ở nước ta hiện nay cần phải dựa trên ba nội dung chủ yếu là: bản chất của quan hệ sở hữu đất đai; tính quy định của quá trình lịch sử thay đổi quan hệ sở hữu đất đai ở nước ta tạo nên thực trạng hiện nay; chế định chế độ SHTD về đất đai được quy định trong Hiến pháp năm 1992. - Viện nghiên cứu lập pháp (2012), Chế định sở hữu đất đai và việc hoàn thiện pháp luật về sở hữu đất đai ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tài NCKH cấp Bộ.
Công trình này đã nghiên cứu chuyên sâu làm rõ những vấn đề lý luận về sở hữu đất đai, phân tích thực tiễn thực hiện chế độ SHTD về đất đai ở nước ta trong thời gian qua và đề xuất kiến nghị hoàn thiện chế độ SHTD về đất đai. Đặc biệt, công trình đã tổng hợp và phân tích những điểm phù hợp và không phù hợp của ba nhóm ý kiến lớn tranh luận xoay quanh vấn đề sở hữu đất đai đang tồn tại ở nước ta đó là: (i) thực hiện chế độ SHTD một cấp độ chủ sở hữu - sử dụng là Nhà nước, không giao nhiều quyền cho người sử dụng, khi đó nhà nước mới quản lý, quy hoạch sử dụng, thu hồi dễ dàng, không phải đền bù quá lớn; (ii) thừa nhận và xác lập sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân về đất đai. Chế độ SHTD về đất đai không phù hợp với thời kỳ quá độ, đồng thời còn là môi trường pháp lý thuận lợi cho tham nhũng phát triển; (iii) tiếp tục duy trì chế độ SHTD về đất đai. Trên cơ sở đó, công trình luận giải và chứng minh việc duy trì chế độ SHTD về đất đai là hoàn toàn phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Đồng thời, công trình cũng đề xuất nhiều giải pháp cụ thể hoàn thiện chế độ SHTD về đất đai. - Các bài viết: Nguyễn Minh Tuấn (2013), Chế độ SHTD về đất đai – Một vấn đề kiên quyết thực hiện, Tạp chí Cộng sản, Số 04/2013; Nguyễn Đình Kháng (2013), Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế độ SHTD về đất đai ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số 11/2013; Nguyễn Ngọc Điện & Đinh Xuân Thảo (2013), Đất đai thuộc SHTD là phù hợp yêu cầu phát triển, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề 03/2013; Vũ Văn Phúc (2013), SHTD về đất đai: Tất yếu lịch sử trong điều kiện nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 05/2013. Các công trình này đã chứng minh sự cần thiết của việc phải tiếp tục duy trì chế độ SHTD về đất đai ở nước ta trên cả phương diện lý luận cũng như điều kiện thực tiễn. Theo đó, chỉ có chế độ SHTD về đất đai mới phù hợp với bản chất Nhà nước ta là của dân, do dân, vì dân và mới đảm bảo quyền lợi của nhân dân lao động cũng như sự ổn định phát triển của đất nước.
Đồng thời, các bài luan an 10 viết cũng khẳng định những tiêu cực, mâu thuẫn gay gắt trong lĩnh vực đất đai thời gian qua chủ yếu là do sự yếu kém, lạm quyền trong quản lý đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứ không phải xuất phát từ bản chất của SHTD về đất đai. - Phạm Hữu Nghị (2005), Vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện quyền SHTD về đất đai, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 01/2005. Bài viêt này phân tích, làm sáng tỏ vai trò của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ SHTD về đất đai trong việc thực hiện ba quyền năng của chủ sở hữu là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với đất đai. Việc thực hiện quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của Nhà nước đối với đất đai có sự khác biệt so với các chủ thể khác trong xã hội.
Sự khác biệt đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng của Nhà nước đối với đất đai mang tính gián tiếp còn quyền định đoạt đối với đất đai là quyền quy định điều kiện, hình thức, trình tự, thủ tục giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, chuyển QSDĐ đai cho người sử dụng đất. - Nguyễn Quang Tuyến (2016), Vài suy nghĩ về SHTD đối với đất đai, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 01/2016. Trên cơ sở phân tích làm rõ nội hàm khái niệm SHTD về đất đai, tác giả đã cho rằng, SHTD là một khái niệm chính trị mà không phải là khái niệm pháp lý, bởi “toàn dân” mang tính chung chung, trừu tượng không thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật về sở hữu đất đai. Đồng thời, bài viết phân tích, đánh giá những thiếu sót, hạn chế trong các quy định của LĐĐ năm 2013 về quyền đại diện chủ SHTD về đất đai của Nhà nước và vấn đề tham gia giám sát của người dân đối với Nhà nước trong thực hiện quyền đại chủ SHTD về đất đai, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện.
- Nguyễn Quang Tuyến, Hà Văn Hoà (2016), Cấu trúc SHTD về đất đai và vấn đề giám sát quyền của đại diện chủ sở hữu về đất đai ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 06/2016. Bài viết khẳng định cấu trúc thực hiện quyền của đại diện chủ SHTD về đất đai ở nước ta có nhiều tầng nấc do thẩm quyền được giao cho nhiều cơ quan nhà nước và điều đó gây ra sự lạm quyền, hối lộ, tham nhũng. Thực trạng giám sát quyền của đại diện chủ sở hữu về đất đai đang tồn tại nhiều bất cập. Để khắc phục các hạn chế này, các tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị như tăng số lượng các đại biểu chuyên trách đối với giám sát quyền lực nhà nước; nâng cao năng lực giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đảm bảo quyền tự do ngôn luận của công dân.
Từ việc nghiên cứu các công trình đã công bố nêu ở trên về quyền SHTD về đất đai, tác giả luận án có một số đánh giá cơ bản như sau: luan an 11 - Trên thế giới và cũng như tại Việt Nam, vấn đề sở hữu đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai cũng như quy định về địa vị pháp lý của Nhà nước và cá nhân, HGĐ, tổ chức trong quan hệ đất đai. - Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định SHTD về đất đai là một đặc thù của Việt Nam. Tuy nhiên, đặc thù này không phải là bất biến mà nội dung của nó luôn có sự thay đổi do sự tác động của chủ trương chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nên nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. - Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định việc tiếp tục duy trì SHTD về đất đai là phù hợp với lý luận và điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam hiện nay.
- Những bất cập, hạn chế trong lĩnh vực đất đai trong thời gian qua là có thể được khắc trên cơ sở hoàn thiện pháp luật và tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát.