Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phân loại Nấm Linh Chi có vị trí phân loại được thừa nhận rộng rãi hiện nay: Tên khoa học: Ganoderma lucidum Ngành: Eumycota Ngành phụ: Basidiamyctina Lớp: Hymenomycetes Lớp phụ: Hymenomycetidae Bộ: Aphyllophorales Họ: Ganodermataceae Họ phụ: Ganodermoidae Chi: Ganoderma [14]. Nguồn gốc Linh chi (Ganoderma) là loại nấm gỗ mọc hoang trong thiên nhiên, có hàng trăm các loài khác nhau, trong đó có 2 nhóm lớn là: Cổ Linh chi và Linh chi [12]. Linh chi rất phong phú về chủng loại, ước tính trên toàn thế giới có 200 loài Linh chi.
Riêng Trung Quốc có 84 loài, trong đó có 12 loài được dùng làm thuốc như Xích Linh chi, Tử Linh chi, Hắc Linh chi [14],[16]. Theo sách bản thảo cương mục của Lý Thời Trần (1959) thì đại danh y của Trung Quốc đã phân loại Linh chi theo màu sắc thành 6 loại: Thanh chi hay Long chi: màu xanh, vị chua, tính bình, không độc. Hồng chi, Xích chi hay Đơn chi: màu đỏ vị đắng, tính bình, không độc. Hoàng chi hay Kim chi: màu vàng, vị ngọt, tính bình, không độc.
Bạch chi hay Ngọc chi: màu trắng, vị cay, tính bình, không độc. 6 Hắc chi hay Huyền chi: màu đen, vị mặn, tính bình, không độc. Tử chi hay Mộc chi: màu tím, vị ngọt, tính ôn, không độc. Thành phần các hoạt chất sinh học trong nấm Linh chi Các nghiên cứu về thành phần hoá học của nấm Linh chi đầu tiên được tiến hành vào đầu thế kỷ XX, khi các nhà khoa học nghiên cứu đến lớp vỏ láng của nấm và đã phát hiện các chất như: esgosterol, các enzyme phenoloxidase và peroxidase.
Theo phân tích của G. Bing Lin thì thành phần hoá học của Ganoderma lucidum gồm các chất: Nước (12 - 13%), cellulose (54 - 56%), lignin (13 - 14%), monosaccharide (4,5 - 5%), lipid (1,9 - 2,0%), protein (0,08 - 0,12%), sterol (0,14 - 0,16%), các nguyên tố vô cơ như: Ag, Br, Ca, Fe, K, Na, Mg, Mn, Zn, Bi…[12]. Hiện nay người ta đã tìm được các hoạt chất sinh học trong nấm Linh chi như: Hoạt chất Beta–D-glucan, D-6, polysaccharide, ganoderic acid, oleic acid, lucidenol và triterpenoid [12]. Tác dụng của nấm Linh chi Vai trò dược lý của nấm Linh chi rất lớn nhờ sự có mặt của các hoạt chất sinh học.
Nấm Linh chi được sử dụng như một dược liệu quý, kết quả nghiên cứu dược lý học hiện đại cho thấy, nấm Lich chi có tác dụng trên hệ tuần hoàn [19],[21],[22]. Tác dụng trên hệ miễn dịch và chống ung thư [25]. Chế phẩm nấm Lim xanh làm gia tăng quá trình sản xuất Interleukin-1 & 2, có tác dụng hạn chế sự phát triển của nhiều loại mô có hại [22]. Tác dụng phòng, chống bệnh tiểu đường [21], cholesterol và đường trong máu [19].
Làm giảm đường huyết và điều chỉnh rối loạn lipid máu. Nấm Linh chi có chất Polysaccharides làm khôi phục tế bào tiểu đảo tuyến tụy và từ đó thúc đẩy quá trình tiết insulin [12], Tác dụng ngăn chặn quá trình lão hóa, giúp cơ thể tráng kiện. Trong thành phần nấm Linh chi có chứa Acid ganoderic (dẫn chất triterpenoid) có 7 tác dụng như một chất oxy hóa khử các gốc tự do trong cơ thể chống lão hóa. Ổn định và cải thiện chức năng sinh lý của màng tế bào, tăng cường năng lực tổng hợp DNA, RNA và protein [26].
Nhóm steroid trong nấm Linh chi có tác dụng giải độc gan, bảo vệ gan ngưng tổng hợp cholesterol, ức chế nhiều loại vi khuẩn gây bệnh nên có hiệu quả tốt đối với bệnh về gan, mật như: Viêm gan mãn tính, viêm gan cấp tính, xơ gan, gan nhiễm mỡ. Nấm Linh Chi giúp bài tiết các độc tố trong cơ thể, có tác dụng loại bỏ các sắc tố lạ trên da, làm cho da dẻ đẹp, hồng hào, chống lại các bệnh ngoài da như dị ứng, trứng cá. Về giá trị sử dụng làm thuốc của nấm Linh chi Trong các nghiên cứu lâm sàng cho rằng nấm Linh chi cần được nghiên cứu và xem xét trong việc (1) phòng ngừa và điều trị bệnh ung thư ở những người có nguy cơ ung thư cao (2) sử dụng chất bổ trợ trong công tác phòng chống di căn hoặc tái phát ung thư (3) thuốc giảm đau của bệnh ung thư và (4) sử dụng bổ trợ với hóa trị liệu đồng thời giảm thiểu tác dụng phụ, (5) có khả năng ngăn chặn quá trình hình thành khối u, (6) điều hòa huyết áp, (7) ngăn ngừa các bệnh về tim mạch, (8) các bệnh về mạch máu não, (9) điều chỉnh lượng đường trong máu, (10) sản sinh chất chống oxy hóa và chất chống lão hóa hiệu quả[21][22][20]. Về thành phần hóa học và tác dụng dược lý Cấu trúc đặc biệt của Nấm Linh chi gồm 119 khoáng tố vi lượng trong đó có một số khoáng tố như polysaccharides, germanium, Vanadium, crom, và Triterpenoids đã được nghiên cứu.
Các thành phần khoáng chất này đã được khẳng định là nhân tố quan trọng trong các phản ứng chống ung thư, dị ứng, lão hóa, xơ vữa, đông máu nội mạch. Polysaccgaride là một hợp chất hữu cơ có chứa trong thực vật: quả, củ hoặc thân cây. Trong thực vật, polysaccharide tồn tại dưới hai dạng: dạng không tan và dạng hòa tan. Polysaacharide có trong thành phần một số thực vật điển 8 hình như: nhân sâm, nấm linh chi, nấm hương,… hợp chất cao phân tử có chứa hàng trăm thậm chí hàng nghìn mắt xích monoscacchride trong mỗi phân tử [2].
Polysacharide là những polime được tạo ra từ thiên nhiên hoặc nó có thể là sản phẩm của phản ứng trùng ngưng các andozo hoặc xentozo. Polysacharide tồn tại ở các loại mạch như mạch hở, mạch không nhánh hoặc có nhánh, mạch vòng hay uốn khúc. Polysacharide thường được phân loại thành hai loại là omopolysacchride và heteropolysacchride. Homopolysacchride được tạo thành từ một loại monosacchride như tinh bột, xenlluose, glycogen.
Heteropolysacchride được thành từ hai loại monosacchride trở lên như pectit, aga, hemixenllulose…. Trong dược tính của nấm nói chung và nấm Linh chi nói riêng thì hoạt tính dược học của polysaccharide là quan trọng và được nghiên cứu nhiều nhất. Thành phần polysaccharide hoạt tính sinh học chủ yếu thuộc nhóm β- Glucan. Các chất này trong nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học có nguồn gốc từ tự nhiên, là loại chất có khả năng điều chỉnh đáp ứng sinh học.
Là tác nhân điều hòa hệ thống bảo vệ miễn dịch tự nhiên quan trọng nhất, β - Gluccan từ nấm không giống với các loại sản phẩm từ tự nhiên khác mà β- Gluccan từ nấm được tinh khiết duy trì tác dụng sinh học cho phép chúng có hiệu quả ở mức độ phân tử và tế bào [20]. Năm 1980, tại Nhật Bản β- Gluccan trong nấm Linh chi đã chứng minh được khả năng kích thích máu tương tự chủ yếu tố kích thích các bạch cầu hạt đơn nhân. Các thí nghiệm đều cho thấy rằng, hiệu quả tác dụng vào tế bào ung thư rất tốt, có thể làm giảm 70-95% trọng lượng khối u so với chúng. Tuy 9 vậy, kết quả cho khả năng kháng, tác động tích cực tới khối u khi sử dụng kết hợp với chất kháng chống ung thư, còn nếu sử dụng riêng lẻ thì không thể làm khối u biến mất.
Qua đó, β- Gluccan có thể làm giảm sự phát triển của khối u, ngăn chặn khối u di căn. Trái ngược với vi sinh vật, tế bào khối u cũng như các tế bào vật chủ khác, β- Gluccan là một thành phần không thể thiếu là một thành phần bề mặt để kích hoạt thụ thể bổ sung bắt đầu gây độc tế bào và giết chết tế bào khối u. Điều này chỉ xảy ra khi có mặt β- Gluccan [20],[28]. Các hoạt tính của Polysaccharide có tác dụng kháng virus và điều hòa miễn dịch là do có ligmin, các chất kháng sinh; Lentinan là một polysaccharide có tác dụng phục hồi tế bào Lympho T, tăng sản xuất interferol [8].
Hoạt tính tăng khả năng miễn dịch. Hoạt chất Polysaccharide còn được nghiên cứu trong nấm hương, kết quả nghiên cứu cho thấy có khả năng hoạt hóa miễn dịch tế bào thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển tế bào Lympho T, Lympho B từ đó góp phần tăng cường hệ miễn dịch ở bệnh nhân bị bệnh gan, giúp bệnh gan nhiễm mỡ máu chóng hồi phục các tế bào bị tổn thương nhanh chóng hơn [20]. Polysaccharide JSL-18 có trong nấm hương là tăng hoạt tính đại thực bào, tăng tiết IL-6 (Interleakin-6). Bên cạnh đó, trong nấm hương còn chứa các chất như Lentinacin, dezoxy lentinacin, 5’ –GMP, 5’ –AMP có tác dụng chống đông máu.
Ngoài ra, còn có chất eritadenine có hiệu quả làm giảm hàm lượng cholesterol trong máu [5]. Với nhiều tác dụng như vậy việc tách chiết Polysaccharide được quan tâm và nghiên cứu ở nhiều loài nấm trong đó có nấm Linh chi. Các nghiên cứu cho thấy Polysaccharides trong nấm tồn tại như một thành phần cấu trúc của vách tế bào nấm và việc lựa chọn phương pháp trích ly phụ thuộc về cấu trúc tế bào. Một số phương pháp trích ly thu polysaccharides thông thường 10 như: Chiết bằng dung môi, bằng sử dụng nước nóng, giải pháp kiềm và phlyethylene glycol; và các phương pháp sử dụng sóng siêu âm.
Ngoài ra Polysaccharide còn chiết bằng nước, kết tủa bằng etanol với quy trình như sau: Quả thể nấm T. microcaspus tươi (1kg) rửa sạch bằng nước. Sau đó đun sôi nấm quả thế trong 250ml nước cất trong 12 giờ. Hỗn hợp dịch chiết được để qua đêm tại 4 độ C và được lọc qua vải lọc.
Sau đó, ly tâm ở 8000 rpm trong 45 phút tại 6 độ C để thu nhận dịch chiết sạch tạp chất. Thu nhận lấy phần dịch nổi (200ml) và kết tủa trong ethanol theo tỉ lệ (1:5, v/v) ở nhiệt độ phòng. Để kết tủa qua đêm tại 4 độ C, sau đó ly tâm ở 6 độ C trong 1 giờ. Phần kết tủa thu được rửa sạch với nước cất và thẩm tách qua ống thẩm tách trong 6 giờ để loại bỏ các vật liệu có trọng lượng phân tử thấp.
Phần còn lại đem sấy khô [2]. Germanium đây là chất có hàm lượng nhiều thứ 5 trong các chất khoáng (489 µg/g) có trong nấm Linh chi. Chất này tồn tại rất ít ở các loại thực vật trong tự nhiên, chỉ một phần rất nhỏ được tìm thấy trong nhân sâm, lô hội và tỏi [18]. Mặc dù germanium không phải là thành phần thiết yếu, nhưng chỉ cần một liều lượng thấp cũng đã có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch, kháng khối u, chống oxy hóa và chống đột biến [19].
Germanium có tác dụng chống lại các vi khuẩn nhất định. Tồn tại dưới dạng hữu cơ, nó đang được đánh giá cao, và đưa vào nghiên cứu điều trị ung thư. Germanium có khả năng cải thiện và tăng cường hệ miễn dịch, tăng cường quá trình cung cấp oxy cho cơ thể, tiêu diệt các gốc tự do gây hại.