Tổng quan nghiên cứu

Sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam đang chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ trong việc sử dụng hóa chất nông nghiệp. Theo thống kê của ngành bảo vệ thực vật, lượng thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu đã tăng từ 13.000 tấn với trị giá 10 triệu USD trước năm 1990 lên mức 103.500 tấn tương đương gần 700 triệu USD vào năm 2012, và tiếp tục vượt ngưỡng 774 triệu USD vào năm 2014. Tại tỉnh Quảng Ngãi, nơi diện tích gieo trồng lúa cả năm đạt 75.426 ha với năng suất trung bình 56,6 tạ/ha, áp lực bảo vệ cây trồng trước các đợt dịch hại bùng phát ngày càng trở nên cấp thiết.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, sự thiếu hụt kiến thức chuyên môn của nông hộ và những bất cập trong mạng lưới phân phối vật tư nông nghiệp. Mục tiêu cụ thể của luận văn là điều tra, đánh giá toàn diện hiện trạng sử dụng thuốc tại nông hộ, cơ cấu kinh doanh tại các đại lý phân phối và hiệu lực thi hành chính sách quản lý nhà nước tại địa phương. Từ đó, công trình xây dựng chiến lược quản lý cung ứng và hướng dẫn thực hành nông nghiệp an toàn, hướng tới giảm thiểu tối đa rủi ro độc chất học đối với sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái.

Phạm vi không gian của đề tài được triển khai tập trung tại 3 địa bàn trọng điểm đại diện cho các vùng sinh thái nông nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi gồm huyện Bình Sơn, huyện Mộ Đức và thành phố Quảng Ngãi trong giai đoạn 2015 - 2016. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu thể hiện qua việc lượng hóa các chỉ số hành vi canh tác, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để giám sát 471 cơ sở buôn bán thuốc đủ điều kiện và kiểm soát diện tích nhiễm dịch hại lớn như 8.315,5 ha bệnh khô vằn và 5.098,1 ha rầy nâu từng ghi nhận trên địa bàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết độc chất học nông nghiệp và hệ thống phân loại mức độ nguy hại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng Thông tư 21/2015/TT-BNNPTNT. Khung lý thuyết này phân định độc tính cấp tính dựa trên chỉ số liều gây chết trung bình LD50 (mg/kg thể trọng) và nồng độ gây chết trung bình LC50, chia thuốc thành 4 nhóm độc từ rất độc (Nhóm I) đến cẩn thận (Nhóm IV). Đồng thời, tác giả vận dụng lý thuyết Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) - một hệ thống kết hợp hài hòa các biện pháp sinh học, canh tác và hóa học chọn lọc nhằm duy trì mật độ dịch hại dưới ngưỡng gây thiệt hại kinh tế.

Ba khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật (thành phần có hoạt tính sinh học kiểm soát dịch hại); Thời gian cách ly (khoảng thời gian tối thiểu từ lần xử lý thuốc cuối cùng đến khi thu hoạch nông sản nhằm đảm bảo an toàn dư lượng); và Nguyên tắc "4 đúng" (đúng thuốc, đúng lúc, đúng nồng độ - liều lượng, đúng cách). Bên cạnh đó, luận văn xem xét tác động liên hợp nâng cao tiềm thế khi phối trộn hoạt chất và nguy cơ tích lũy độc chất trong chuỗi dinh dưỡng môi trường đất - nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bộ phiếu điều tra khảo sát thiết kế riêng cho 4 nhóm đối tượng: 60 nông dân trực tiếp canh tác, 15 đại lý cung ứng thuốc bảo vệ thực vật, 09 cán bộ lãnh đạo (Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch) UBND cấp xã và 03 Trưởng trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tại huyện Bình Sơn, Mộ Đức và thành phố Quảng Ngãi. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo chuyên ngành của Cục Bảo vệ thực vật, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Quảng Ngãi cùng niên giám thống kê nông nghiệp địa phương.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các vùng sinh thái đặc trưng: vùng trọng điểm thâm canh lúa (huyện Mộ Đức), vùng đa dạng cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày (huyện Bình Sơn), và vùng nông nghiệp ven đô (thành phố Quảng Ngãi). Dữ liệu được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích tần suất và tỷ lệ phần trăm. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là để lượng hóa chính xác các khoảng trống nhận thức, đo lường tỷ lệ vi phạm quy chuẩn an toàn lao động và đánh giá mức độ tuân thủ pháp lý của các cơ sở phân phối trong mốc thời gian thực hiện năm 2015 - 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả khảo sát thực địa đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về chuỗi sử dụng, cung ứng và quản lý thuốc bảo vệ thực vật tại tỉnh Quảng Ngãi:

Thứ nhất, mức độ tuân thủ nguyên tắc "4 đúng" của người nông dân ở mức rất thấp, gần như không có nông hộ nào thực hiện đầy đủ cả 4 tiêu chuẩn kỹ thuật khi phun xịt. Hầu hết các hộ đều tự ý tăng nồng độ thuốc cao hơn khuyến cáo của nhà sản xuất từ 1,2 đến 1,5 lần và thường xuyên phối trộn từ 2 đến 3 loại thuốc trong cùng một bình phun.

Thứ hai, mạng lưới cung ứng bao gồm 471 cơ sở đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật trên tổng số 591 cơ sở có chứng chỉ hành nghề cũ. Tuy nhiên, 100% chủ đại lý khảo sát chưa có trình độ đại học chuyên sâu về bảo vệ thực vật, và phần lớn lực lượng phụ bán hàng chưa qua đào tạo chuyên môn bài bản, dẫn đến việc tư vấn bán thuốc chủ yếu dựa vào mục tiêu lợi nhuận hoặc kinh nghiệm cảm tính.

Thứ ba, cơ cấu tiêu thụ thuốc chịu ảnh hưởng trực tiếp từ áp lực dịch hại trên cây lúa. Trong năm khảo sát, các đợt dịch lớn bùng phát trên diện rộng gồm 8.315,5 ha nhiễm bệnh khô vằn, 5.098,1 ha nhiễm rầy nâu - rầy lưng trắng (với 348 ha nhiễm nặng), 2.684,5 ha nhiễm đạo ôn lá và hơn 2.000 ha bị chuột gây hại. Nông dân chủ yếu chọn các dòng thuốc trừ sâu, trừ cỏ hóa học có tác động nhanh thay vì các chế phẩm sinh học.

Thứ tư, công tác xử lý rác thải sau sử dụng tồn tại nhiều rủi ro nghiêm trọng. Tỷ lệ nông hộ vứt bỏ vỏ chai, bao bì thuốc trực tiếp tại bờ ruộng, kênh mương thủy lợi chiếm trên 70%, trong khi tỷ lệ địa phương bố trí bể chứa thu gom rác thải nguy hại đạt tỷ lệ rất khiêm tốn.

Thảo luận kết quả

Thực trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Quảng Ngãi bắt nguồn từ tâm lý lo ngại thất thu năng suất lúa (vốn đạt 58,7 tạ/ha trong vụ Đông Xuân và 56,0 tạ/ha trong vụ Hè Thu). Nông dân có xu hướng coi hóa chất là công cụ bảo hiểm mùa màng tức thì. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của Alicia L. Salvatore (2008) tại Hoa Kỳ, nơi chỉ có 25% người lao động mặc đủ đồ bảo hộ, và nghiên cứu của Phạm Bích Ngân tại Việt Nam ghi nhận 89,5% trường hợp ngộ độc bắt nguồn từ việc không trang bị phương tiện phòng hộ cá nhân.

Các dữ liệu điều tra có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ % nguồn gốc hoạt chất kinh doanh tại các đại lý, cùng bảng thống kê đối chiếu mức độ đáp ứng tiêu chuẩn kho bãi theo Thông tư 21/2015/TT-BNNPTNT (khoảng cách tối thiểu 20 mét so với nguồn nước sinh hoạt và diện tích tối thiểu 10 mét vuông). Sự thiếu hụt các đợt thanh tra thực chất từ chính quyền cấp xã đã tạo ra kẽ hở cho các loại thuốc ngoài danh mục hoặc thuốc không đúng đối tượng đăng ký lưu thông trên thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực tế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm chuẩn hóa công tác quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:

Thứ nhất, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Quảng Ngãi cần đẩy mạnh tổ chức các khóa tập huấn IPM chuyên sâu. Mục tiêu là nâng tỷ lệ nông dân hiểu và thực hành đúng nguyên tắc "4 đúng" lên trên 85% tại 60 xã nông nghiệp trọng điểm trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ hai, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phối hợp với lực lượng Quản lý thị trường tiến hành thanh tra, hậu kiểm định kỳ 100% trong số 471 cơ sở kinh doanh đã được cấp phép. Cơ quan chức năng cần kiên quyết đình chỉ các cửa hàng không đạt chuẩn diện tích tối thiểu 10 mét vuông, vi phạm khoảng cách ly nguồn nước 20 mét hoặc người bán không có chứng chỉ chuyên môn.

Thứ ba, UBND cấp xã chủ trì phối hợp với các hợp tác xã nông nghiệp quy hoạch và xây dựng hệ thống bể thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật đạt chuẩn, với mật độ tối thiểu 2 đến 3 bể trên mỗi cánh đồng 50 ha. Timeline hoàn thành hạ tầng thu gom là trong vòng 12 đến 24 tháng, đảm bảo 100% rác thải độc hại được tiêu hủy theo quy trình kỹ thuật môi trường.

Thứ tư, Trung tâm Khuyến nông tỉnh triển khai các chính sách hỗ trợ giá và mô hình trình diễn thuốc bảo vệ thực vật sinh học trên quy mô 10.000 ha cây trồng, phấn đấu giảm tỷ trọng thuốc hóa học độc hại nhóm I và II xuống dưới 15% tổng lượng tiêu thụ trên toàn địa bàn trong vòng 3 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách nông nghiệp: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về mạng lưới 471 đại lý và lỗ hổng giám sát cấp xã, hỗ trợ xây dựng cơ chế kiểm soát thị trường vật tư nông nghiệp và chính sách bảo vệ môi trường nông thôn.

  2. Cán bộ khuyến nông và kỹ sư bảo vệ thực vật địa phương: Sử dụng các dẫn liệu về dịch hại (như 8.315,5 ha khô vằn, 5.098,1 ha rầy nâu) để xây dựng lịch dự tính, dự báo và biên soạn tài liệu hướng dẫn kỹ thuật phun xịt an toàn cho nông hộ.

  3. Chủ doanh nghiệp, hợp tác xã và đại lý kinh doanh vật tư nông nghiệp: Làm căn cứ tự đánh giá, nâng cấp điều kiện kho bãi đạt chuẩn 10 mét vuông, hoàn thiện hồ sơ pháp lý và chuẩn hóa năng lực tư vấn thuốc cho khách hàng.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Nông học, Bảo vệ thực vật, Khoa học Môi trường: Tham khảo khung phương pháp điều tra đa tác nhân (kết hợp 60 nông dân, 15 đại lý và 12 cán bộ quản lý) để thực hiện các đề tài nghiên cứu liên quan đến độc chất học và sinh thái học nông nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nguyên tắc "4 đúng" trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gồm những yếu tố nào và thực trạng áp dụng tại địa phương ra sao? Nguyên tắc "4 đúng" bao gồm: đúng thuốc, đúng lúc, đúng nồng độ - liều lượng, và đúng cách. Kết quả điều tra trên 60 hộ nông dân tại Quảng Ngãi cho thấy hầu như không có hộ nào thực hiện đầy đủ cả 4 nguyên tắc, phổ biến nhất là tình trạng tự ý tăng liều lượng và pha trộn nhiều loại thuốc cùng lúc.

  2. Điều kiện tiêu chuẩn để một đại lý được cấp phép kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật là gì? Theo Thông tư 21/2015/TT-BNNPTNT, chủ cơ sở hoặc người trực tiếp bán phải có trình độ chuyên môn từ trung cấp nông nghiệp/BVTV trở lên hoặc có chứng chỉ bồi dưỡng chuyên ngành. Cửa hàng phải có diện tích tối thiểu 10 mét vuông, cách nguồn nước sinh hoạt ít nhất 20 mét và bảo đảm điều kiện phòng chống cháy nổ.

  3. Các loại dịch hại nào gây thiệt hại lớn nhất cho sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ngãi? Cây lúa là đối tượng chịu thiệt hại nặng nề nhất. Theo số liệu ghi nhận, diện tích nhiễm bệnh khô vằn lên tới 8.315,5 ha, rầy nâu và rầy lưng trắng gây hại trên 5.098,1 ha (với 348 ha bị nhiễm nặng), bệnh đạo ôn lá phát sinh trên 2.684,5 ha và chuột cắn phá hơn 2.000 ha.

  4. Việc không trang bị bảo hộ lao động khi phun thuốc gây ra những nguy cơ gì cho người nông dân? Không mang trang bị phòng hộ cá nhân khiến hóa chất xâm nhập qua da, mắt và đường hô hấp, gây nhiễm độc cấp tính (chóng mặt, buồn nôn) và mãn tính. Các khảo sát thực tế tại Việt Nam cho thấy có tới 89,5% trường hợp xuất hiện triệu chứng ngộ độc xuất phát từ nguyên nhân không mặc quần áo bảo hộ.

  5. Vì sao cần thúc đẩy chuyển dịch sang sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học? Thuốc bảo vệ thực vật sinh học có nguồn gốc từ vi sinh vật, thực vật hoặc thảo mộc, có ưu điểm tiêu diệt dịch hại chọn lọc, an toàn cho thiên địch, thời gian cách ly ngắn và không để lại dư lượng độc hại. Dự báo các chế phẩm sinh học sẽ dần thay thế hơn 20% lượng thuốc hóa học truyền thống trong sản xuất nông nghiệp bền vững.

Kết luận

Luận văn đã thực hiện một khảo sát toàn diện và cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng có giá trị cao về bức tranh nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ngãi:

  • Khảo sát trực tiếp 60 nông hộ, 15 đại lý phân phối, 09 lãnh đạo UBND xã và 03 trưởng trạm kỹ thuật tại huyện Mộ Đức, Bình Sơn và TP. Quảng Ngãi.
  • Chỉ rõ thực trạng đáng báo động khi tỷ lệ nông dân tuân thủ nguyên tắc "4 đúng" đạt mức gần như bằng 0% và đa số không trang bị đủ bảo hộ lao động.
  • Đánh giá hiện trạng 471 cơ sở kinh doanh đủ điều kiện nhưng còn thiếu nhân lực có chuyên môn sâu về bảo vệ thực vật.
  • Phân tích mối liên hệ giữa các đợt dịch hại quy mô lớn (8.315,5 ha khô vằn, 5.098,1 ha rầy nâu) với tập quán lạm dụng hóa chất trên 75.426 ha lúa của tỉnh.
  • Đề xuất lộ trình đồng bộ từ tập huấn IPM, chuẩn hóa hạ tầng kho bãi đến xây dựng bể thu gom rác thải nguy hại trên đồng ruộng.

Đóng góp chính của luận văn là làm sáng tỏ mắt xích quản lý còn yếu ở cấp cơ sở và cung cấp cơ sở khoa học để tái định hình chính sách quản lý vật tư nông nghiệp giai đoạn 2016 - 2020. Các cơ quan quản lý và địa phương cần khẩn trương áp dụng ngay các khuyến nghị kỹ thuật nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững.