Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành nông nghiệp Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những bước chuyển biến tích cực cả về năng suất lẫn sản lượng, trong đó cây chè (Camellia sinensis) giữ vai trò cây công nghiệp chủ lực mang lại giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu lớn. Theo số liệu thống kê được tác giả trích dẫn, tính đến năm 2015, sản lượng chè búp tươi của cả nước đạt 1,2 triệu tấn, sản lượng chè búp khô đạt 260.000 tấn, trong đó xuất khẩu đạt 200.000 tấn với kim ngạch 440 triệu USD (giá xuất khẩu bình quân đạt 2.200 USD/tấn). Cả nước có khoảng 136.000 ha đất trồng chè, phân bố chủ yếu tại vùng trung du và miền núi phía Bắc, Hà Tĩnh ở miền Trung, Lâm Đồng và Gia Lai ở miền Nam. Tuy nhiên, sản xuất chè đối mặt với áp lực dịch hại nghiêm trọng làm tổn thất từ 15% đến 30% sản lượng và làm suy giảm chất lượng nông sản.

Tại tỉnh Thái Nguyên, vùng đất có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa và mức độ chuyên canh chè cao, tập quán canh tác của người dân phụ thuộc nặng nề vào các biện pháp hóa học đơn lẻ. Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón hóa học với phương châm "phòng hơn chống", phun xịt định kỳ thiếu kiểm soát đã làm triệt hạ quần thể thiên địch, gây bùng phát các đợt dịch hại mới do sâu bệnh kháng thuốc, phá vỡ cân bằng sinh thái đất và nước. Đồng thời, dư lượng hóa chất tồn đọng vượt mức tiêu chuẩn trên sản phẩm chè búp đã khiến nhiều lô hàng xuất khẩu bị trả về, làm suy giảm uy tín thương hiệu và trực tiếp đe dọa đến sức khỏe của người trực tiếp lao động cũng như người tiêu dùng. Nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng này tại một địa bàn canh tác cụ thể, đề tài "Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến cây chè và sức khỏe người dân trồng chè tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên" đã được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu tổng quát:
    • Đánh giá mức độ ảnh hưởng của thuốc BVTV và phân bón hóa học đến cây chè tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
    • Đánh giá mức độ ảnh hưởng của thuốc BVTV và phân bón hóa học đến sức khỏe người dân trồng chè tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
    • Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học đến đặc điểm, tính chất sức khỏe của người dân sản xuất chè.
    • Đề xuất các biện pháp nâng cao ý thức người dân và hiệu quả công tác quản lý thuốc BVTV, phân bón hóa học an toàn tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học; sự sinh trưởng và chất lượng cây chè; tình trạng sức khỏe của cộng đồng dân cư tại vùng sản xuất chè xã Bình Sơn.
  • Phạm vi không gian: Khu vực sản xuất chè trên địa bàn xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được tiến hành thu thập số liệu và điều tra thực địa từ tháng 02/2016 đến tháng 05/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng nghiên cứu dựa trên các khái niệm độc học môi trường, nguyên lý nông hóa - thổ nhưỡng và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước:

  • Khái niệm và cơ chế tác động: Phân tích định nghĩa về chất độc, liều lượng hoạt chất ($a.i$) và liều lượng thuốc thương phẩm; cơ chế gây ô nhiễm mạch nước ngầm và sông suối do muối nitrat khi bón thừa phân đạm; hiện tượng đất bị nén chặt, giảm độ trương co và suy giảm vi sinh vật có ích ("chai cứng" đất); nguy cơ gây chua đất và phát sinh các khí độc ($H_2S$, $CH_4$, $CO_2$) khi sử dụng phân hữu cơ chưa ủ hoai mục; đặc tính tồn lưu lâu dài (thời gian bán phân giải) của thuốc trừ sâu trong môi trường đất, nước và chuỗi dinh dưỡng sinh học.
  • Phân loại hóa chất nông nghiệp: Phân loại thuốc BVTV theo đối tượng phòng trừ (thuốc trừ sâu, trừ bệnh, trừ cỏ, trừ nhện, trừ chuột, trừ tuyến trùng), theo con đường xâm nhập (tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp, thấm sâu) và nguồn gốc (sinh học chiếm khoảng 2,5%, thảo mộc, vô cơ, hữu cơ tổng hợp); phân loại phân bón hóa học gồm phân đạm (cung cấp $N$ dạng $NO_3^-$ và $NH_4^+$), phân lân (cung cấp $%P_2O_5$) và phân kali (cung cấp $%K_2O$).
  • Cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn môi trường: Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13; Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13; Nghị định số 202/2013/NĐ-CP về quản lý phân bón; Thông tư số 21/2015/TT-BNNPTNT về quản lý thuốc BVTV; Quyết định số 5/2013/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thái Nguyên; các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia gồm QCVN 15:2008/BTNMT (dư lượng hóa chất BVTV trong đất), QCVN 03:2008/BTNMT (kim loại nặng trong đất), QCVN 05:2009/BTNMT, QCVN 06:2009/BTNMT, QCVN 07:2009/BTNMT; cùng các tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5508:2009, TCVN 6132:1996, TCVN 6135:2009, TCVN 8061:2009, TCVN 8568:2010.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học được kết hợp đồng bộ:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Tiếp cận báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, địa chính, nông nghiệp từ UBND xã Bình Sơn, số liệu Cục Bảo vệ thực vật và Hiệp hội Phân bón quốc tế (IFA).
  • Phương pháp điều tra phỏng vấn: Thiết kế và phát 50 phiếu điều tra, bao gồm 30 phiếu dành cho các hộ gia đình trực tiếp sản xuất chè và 20 phiếu dành cho các hộ không sản xuất chè nhưng sinh sống trong cùng khu vực.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm: Lấy 3 mẫu chè tươi tại 3 vùng khác nhau; mỗi mẫu có khối lượng 0,5 kg được gộp từ 5 điểm lấy mẫu (4 góc và 1 điểm trung tâm vườn chè) vào sáng sớm. Các mẫu được phân tích tại Viện Khoa học Sự sống – Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo các phương pháp chuyên dụng:
Chỉ tiêu phân tích Phương pháp phân tích
Hàm lượng Đạm tổng số (%) Phương pháp phân hủy và chưng cất Kjeldahl (Bình Kendan)
Hàm lượng Lân ($%P_2O_5$) Phương pháp so màu quang phổ
Hàm lượng Kali ($%K_2O$) Phương pháp đo quang phổ
Dư lượng thuốc BVTV Phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC-MS)
  • Phương pháp trực tiếp thị sát đồng ruộng: Khảo sát thực địa về công tác vệ sinh nương chè, thói quen vứt bỏ bao bì, chai lọ thuốc BVTV sau khi phun rải.
  • Phương pháp tổng hợp, so sánh và xử lý số liệu: Đối chiếu kết quả phân tích với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành; xử lý và tính toán số liệu thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả khẳng định vị thế kinh tế của ngành chè Việt Nam (kim ngạch xuất khẩu 440 triệu USD năm 2015) và chỉ ra các nguyên nhân khiến năng suất, chất lượng bị ảnh hưởng do sâu bệnh hại (rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ, nhện đỏ nâu). Trình bày bối cảnh lạm dụng thuốc BVTV, bón phân hóa học mất cân đối tại Thái Nguyên; xác lập hệ thống 2 mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong việc bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe người dân xã Bình Sơn.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và khung pháp lý:

  • Dữ liệu thực tiễn quốc tế và trong nước: Dẫn số liệu của IFA về công suất amoniac toàn cầu đạt 217,8 triệu tấn và urê đạt 210,3 triệu tấn vào năm 2013; số liệu Cục BVTV cho thấy lượng thuốc BVTV thương phẩm sử dụng ở Việt Nam tăng từ 6,5–9,0 nghìn tấn (1981–1986) lên 36–75,8 nghìn tấn (2001–2010), lượng hoạt chất tăng từ 0,3 kg/ha lên 1,24–2,54 kg/ha. Mức tiêu thụ thuốc BVTV bình quân đầu người tại Việt Nam năm 2010 là 0,95 kg/người. Hàng năm nông dân cả nước sử dụng khoảng 5 triệu tấn phân bón vô cơ quy chuẩn.
  • Tác động sức khỏe: Trích dẫn số liệu Cục Y tế dự phòng và môi trường Việt Nam ghi nhận hàng năm có trên 5.000 trường hợp nhiễm độc hóa chất BVTV cấp cứu tại bệnh viện và trên 300 trường hợp tử vong do ngộ độc cấp tính; phơi nhiễm gián tiếp lâu dài từ 3 đến 5 năm làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ung thư.
  • Tổng quan các công trình nghiên cứu sâu bệnh hại chè: Điểm lại các nghiên cứu từ thời kỳ Du.Pasquier (1931–1932) xác định 38 loài sâu bệnh hại chè (25 loài sâu hại) đến các nghiên cứu của Lê Thị Nhung, Nguyễn Thái Thắng (2007) và Hoàng Thị Hợi về quy luật phát sinh và ngưỡng gây hại của 4 loài dịch hại chủ yếu:
Loài sâu bệnh hại Mật độ gây hại (con/khay) Tỷ lệ búp bị hại (%) Triệu chứng gây hại đặc trưng trên cây chè
Rầy xanh
(Empoasca flavescens)
< 2
3 - 4
5 - 10
11 - 15
16 - 25
< 10
20 - 30
40 - 80
90 - 100
100
Búp xanh bóng, hầu như không có biểu hiện hại.
Búp xanh bình thường, lác đác có búp bị hại.
Búp xanh hơi vàng, đa số búp chè bị hại.
Lá chè xanh vàng, thô cứng, cong hình thuyền, búp cằn lại.
Búp cằn thô cứng, mép lá non chuyển nâu, chè cháy khi nắng nóng.
Bọ cánh tơ 0,5
1 - 2
3 - 5
6 - 10
10 - 20
20
20 - 40
50 - 100
100
100
Búp xanh bóng láng, thỉnh thoảng có lá xuất hiện 2 đường song song mờ.
Búp nhìn hơi thô, biểu hiện rõ triệu chứng ở 20% búp.
Búp hơi thô cứng, sần sùi, nhiều lá nổi rõ 2 đường song song.
Búp xanh vàng, thô cứng, sần sùi, 2 đường song song sần màu nâu.
Búp cằn biến vàng, thô cứng, mặt dưới lá chuyển màu nâu, cháy toàn lá.
Nhện đỏ nâu 2 - 3
4 - 5
6 - 10
11 - 20
21 - 50
10
20 - 30
40 - 70
80 - 100
100
Từng ổ riêng lẻ trên đồi chè, toàn lô chè vẫn xanh bình thường.
Đa số lá xanh bình thường, lác đác có lá chuyển thành hơi vàng đỏ.
Từng đám chè bị biến đỏ, xác nhện rải khắp mặt lá.
Khắp đồi chè bị hại, lá chè biến sang màu đồng đỏ.
Lá chè biến màu đỏ thẫm, cháy nhện trên toàn bộ diện tích.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết 6 nội dung nghiên cứu chính bao gồm: điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội; thực trạng sản xuất chè; thực trạng sử dụng phân bón và thuốc BVTV; ảnh hưởng của hóa chất đến cây chè; tình trạng sức khỏe người dân; các giải pháp quản lý và kỹ thuật xử lý. Trình bày quy chuẩn lấy mẫu 3 cụm chè tươi tại vườn và quy trình phân tích các chỉ tiêu N, P, K, dư lượng thuốc BVTV bằng máy sắc ký khí khối phổ tại phòng thí nghiệm chuyên ngành.

Phần 4: Dự kiến kết quả nghiên cứu

Phần này phản ánh chi tiết các dữ liệu điều tra cơ bản tại địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên và tài nguyên xã Bình Sơn: Diện tích tự nhiên toàn xã là 2.800 ha; địa hình bán sơn địa thấp dần từ Tây Nam (cao 290–300 m) sang Đông Bắc (đồi thấp 24–25 m). Đất sản xuất nông - lâm nghiệp chiếm 84,1% diện tích (đất chưa sử dụng còn 33,27 ha). Nhiệt độ trung bình năm là 22°C (tháng 7 nóng nhất đạt 28,5°C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 38°C; tháng 1 lạnh nhất 15,6°C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 3°C). Lượng mưa trung bình năm đạt 2.097 mm (mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm 91,6% tổng lượng mưa). Nguồn nước mặt gồm lưu vực Sông Công (lưu lượng mùa mưa 29,7 $m^3/s$, mùa khô 4,21 $m^3/s$) và hồ Ghềnh Chè rộng 78,8 ha nối qua suối Hai Luồng dài 5 km; mực nước ngầm xuất hiện ở độ sâu từ 6 đến 13 m.
  • Hiện trạng kinh tế - xã hội và lao động: Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 9,6 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo chiếm 8,2% (170 hộ). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,64%. Năm 2015 toàn xã có 25 xóm với tổng dân số 8.557 người (2.216 hộ).
Tiêu chí thống kê Thành phần / Cơ cấu Số lượng Tỷ lệ (%)
Cơ cấu hộ gia đình (Năm 2014, tổng 2.256 hộ) Hộ làm nông nghiệp
Hộ làm dịch vụ - thương mại
Hộ phi nông nghiệp
1.928 hộ
173 hộ
155 hộ
85,47%
7,66%
6,87%
Hiện trạng lao động (Năm 2015, tổng 4.711 lao động) Lao động nông nghiệp
Lao động dịch vụ - thương mại
Lao động công nghiệp - xây dựng
3.156 người
706 người
849 người
67,00%
15,00%
18,00%
  • Quy hoạch và sản xuất nông nghiệp: Diện tích đất trồng lúa là 538,16 ha (năng suất bình quân 50 tạ/ha/năm); đất trồng cây hàng năm khác 122,87 ha; đất trồng cây lâu năm 563,0 ha (cây ăn quả 9,75 ha). Quy hoạch vùng sản xuất chè tập trung tại Vùng 1 (các xóm Bình Định: 70 ha) và Vùng 2 (Tân Sơn, Khe Lim, Tiền Tiến: 80 ha), định hướng thay thế 60–70% diện tích bằng các giống chè lai và nhập nội (Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, LDP1, LDP2, PH8, PH9) đến năm 2020.
  • Hạ tầng kỹ thuật: 100% đường trục xã, liên xã được nhựa hóa và bê tông hóa (16,823 km); đường trục thôn xóm bê tông hóa đạt 54,53% (31,65 km); hệ thống kênh mương cứng hóa đạt 51,23% (7,489/14,619 km); tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 74,43% (6.362 người); Trạm y tế xã đạt 89,5/100 điểm theo Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã.
  • Đánh giá hiện trạng dùng thuốc và phân bón: Phản ánh danh mục các loại thuốc bảo vệ thực vật, định mức phân bón hóa học trung bình trên 1 ha, việc tuân thủ quy trình bón phân, thời gian cách ly sau phun thuốc, các triệu chứng lâm sàng cơ năng ở người trực tiếp phun thuốc và đề xuất giải pháp quản lý - xử lý vỏ bao bì thuốc BVTV.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về mức độ ảnh hưởng của việc canh tác sử dụng hóa chất đến năng suất, chất lượng chè và sức khỏe dân cư tại địa bàn; kiến nghị chính quyền địa phương siết chặt quản lý mạng lưới kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật, hướng dẫn người dân thu gom rác thải nguy hại và áp dụng quy trình sản xuất chè an toàn.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp các kết quả cụ thể về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội gắn liền với thực trạng canh tác nông nghiệp tại địa phương:

  • Số liệu thực trạng kinh tế - xã hội địa phương: Xã Bình Sơn có tính chất thuần nông với 85,47% số hộ và 67% lực lượng lao động phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người còn ở mức thấp (9,6 triệu đồng/người/năm vào năm 2014), tỷ lệ hộ nghèo chiếm 8,2%. Cơ sở hạ tầng thủy lợi đã kiên cố hóa được 51,23% kênh mương phục vụ tưới tiêu cho vùng sản xuất lúa và cây công nghiệp.
  • Dữ liệu khoa học về dịch hại và độc học: Hệ thống hóa mối tương quan giữa mật độ cá thể và triệu chứng gây hại của 3 nhóm sâu hại chủ lực trên chè (rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện đỏ nâu), cung cấp ngưỡng định lượng cụ thể phục vụ công tác giám sát dịch hại thực tế.
  • Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất:
    1. Giải pháp quản lý: Cơ quan chức năng cần rà soát, rút gọn danh mục hoạt chất thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây chè xuống còn khoảng 15–20 hoạt chất tối ưu; loại bỏ hoàn toàn các hoạt chất có độ độc cao và các hoạt chất nằm trong hàng rào kỹ thuật cấm của các quốc gia nhập khẩu chè. Chuyển đổi mô hình quản lý việc dùng hóa chất từ quy mô hộ cá thể sang các tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc mô hình "bệnh viện cây trồng" chuyên trách theo vùng sinh thái.
    2. Giải pháp kỹ thuật và xử lý: Quy hoạch các điểm thu gom, bãi xử lý rác thải bao bì, chai lọ hóa chất BVTV xa khu dân cư và xa các nguồn nước mặt (Sông Công, suối Hai Luồng, hồ Ghềnh Chè); tăng cường công tác khuyến nông, hướng dẫn kỹ thuật bón phân cân đối, ủ phân hữu cơ đúng phương pháp để tránh phát sinh khí độc ($H_2S, CH_4$) và mầm bệnh hại đất; tuân thủ nghiêm ngặt thời gian cách ly sau phun thuốc.
  • Đóng góp của đề tài: Khóa luận đóng góp nguồn dữ liệu điều tra thực tế tại địa bàn xã miền núi Bình Sơn (thành phố Sông Công), kết hợp giữa khảo sát xã hội học nông thôn với phân tích trong phòng thí nghiệm (đạm, lân, kali và dư lượng BVTV bằng GC-MS), tạo cơ sở khoa học để chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch quản lý môi trường và định hướng sản xuất chè an toàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Thời gian khảo sát thực địa và theo dõi diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (từ tháng 02 đến tháng 05 năm 2016); quy mô khảo sát xã hội học giới hạn ở 50 hộ gia đình (30 hộ sản xuất chè, 20 hộ không sản xuất chè) và 3 cụm mẫu chè tươi phân tích; tài liệu thứ cấp tại địa phương chưa có số liệu thống kê định lượng chi tiết về trữ lượng khai thác thực tế của nguồn nước ngầm.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Mở rộng phạm vi lấy mẫu đất, mẫu nước mặt, nước ngầm và sản phẩm chè thành phẩm qua nhiều mùa vụ trong năm; tăng số lượng mẫu điều tra dịch tễ học sức khỏe cộng đồng để đánh giá định lượng mối liên hệ giữa thời gian phơi nhiễm thuốc BVTV với tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên, Địa chính Môi trường, Khoa học Môi trường, Nông học và Bảo vệ thực vật khi cần phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa điều tra xã hội học nông thôn và hóa nghiệm môi trường.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp, cán bộ khuyến nông tại thành phố Sông Công và tỉnh Thái Nguyên trong việc hoạch định chính sách thu gom bao bì thuốc BVTV, kiểm soát danh mục hóa chất nông nghiệp và tổ chức các vùng chuyên canh chè an toàn.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Hệ thống bảng tra cứu mối quan hệ giữa mật độ sâu bệnh và mức độ tổn thương búp chè (Bảng 2.1, 2.2, 2.3), quy trình lấy mẫu - phân tích hóa nghiệm nông sản (Bảng 3.1), và các số liệu thống kê chi tiết về hiện trạng kinh tế - lao động - hạ tầng xã Bình Sơn (Bảng 4.1, 4.2, 4.3).

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả sử dụng những phương pháp và thiết bị nào trong phòng thí nghiệm để kiểm tra mẫu chè tươi?
Các mẫu chè tươi lấy tại vườn được phân tích tại Viện Khoa học Sự sống – Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Hàm lượng Đạm tổng số (%) được xác định bằng phương pháp Kendan (Kjeldahl); hàm lượng Lân và Kali được đo bằng phương pháp quang phổ; dư lượng thuốc bảo vệ thực vật được xác định bằng hệ thống máy sắc ký khí khối phổ (GC-MS).

2. Quy mô điều tra phỏng vấn xã hội học trong nghiên cứu được phân bổ như thế nào?
Nghiên cứu tiến hành điều tra trên tổng số 50 phiếu khảo sát tại xã Bình Sơn, trong đó gồm 30 phiếu phát cho 30 hộ gia đình trực tiếp sản xuất chè và 20 phiếu phát cho 20 hộ gia đình không sản xuất chè nhưng sinh sống trong khu vực nương chè.

3. Theo tổng quan tài liệu của đề tài, 4 loài sâu hại nguy hiểm nhất trên cây chè tại vùng trung du phía Bắc là những loài nào?
Bốn loài sâu hại chủ yếu được tổng kết gồm: Rầy xanh (Empoasca flavescens), Bọ cánh tơ, Bọ xít muỗi (Helopeltis theivora) và Nhện đỏ nâu.

4. Dữ liệu văn bản ghi nhận những thông số cơ bản nào về cơ cấu dân cư và lao động tại xã Bình Sơn?
Năm 2014, toàn xã có 85,47% hộ làm nông nghiệp (1.928 hộ), 7,66% hộ làm dịch vụ - thương mại (173 hộ) và 6,87% hộ phi nông nghiệp (155 hộ). Đến năm 2015, tổng dân số đạt 8.557 người thuộc 2.216 hộ; lực lượng trong độ tuổi lao động có 4.711 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 67% (3.156 người), dịch vụ - thương mại chiếm 15% (706 người) và công nghiệp - xây dựng chiếm 18% (849 người).

5. Tác giả đưa ra kiến nghị trọng tâm nào về việc quản lý danh mục hoạt chất thuốc BVTV dùng cho cây chè?
Tác giả kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước cần siết chặt và rút gọn danh mục hoạt chất thuốc BVTV dùng trên cây chè xuống còn khoảng 15–20 hoạt chất tối ưu, loại bỏ hoàn toàn các hoạt chất có nguy cơ độc tính cao với con người hoặc các hoạt chất bị các thị trường nhập khẩu chè sử dụng làm hàng rào kỹ thuật cấm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Hùng Sơn đã phản ánh bức tranh tổng thể về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tập quán canh tác chè tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên năm 2016. Bằng việc kết hợp điều tra thực địa 50 hộ dân, thị sát đồng ruộng và phân tích mẫu chè bằng các phương pháp chuẩn độ Kjeldahl, quang phổ và sắc ký khí khối phổ (GC-MS), đề tài đã làm rõ tác động tiêu cực của việc lạm dụng hóa chất nông nghiệp đối với cân bằng sinh thái nương chè và sức khỏe cộng đồng. Các giải pháp quản lý danh mục hoạt chất, tổ chức dịch vụ bảo vệ thực vật theo mô hình hợp tác xã và xây dựng hạ tầng thu gom rác thải nguy hại được đề xuất là những định hướng thực tiễn nhằm phát triển ngành chè bền vững.