MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây nền sản xuất nông nghiệp của nƣớc ta đã có những bƣớc chuyển biến tích cực tăng cả về mặt năng suất và sản lƣợng cây trồng. Cơ cấu cây trồng đã ngày càng đa dạng và phong phú. Trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp của nƣớc ta hiện nay chè là một loại cây trồng đem lại nhiều giá trị kinh tế cũng nhƣ giá trị tiêu dùng. Đã từ lâu sản phẩm chè trở thành loại thức uống bổ dƣỡng không thể thiếu của ngƣời dân đồng thời chè cũng là một loại dƣợc liệu có thể chữa đƣợc nhiều bệnh.Trong thời gian gần đây sản phẩm chè không những đƣợc tiêu thụ mạnh mẽ trong nƣớc mà còn là một mặt hàng quan trọng xuất khẩu ra nƣớc ngoài đem lại lợi nhuận cho nền kinh tế nƣớc nhà.
Kết thúc năm 2015 sản lƣợng chè búp tƣơi đạt 1,2 triệu tấn, sản lƣợng chè búp khô đạt 260.000 tấn, trong đó xuất khẩu 200.000 tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 440 triệu USD, giá xuất khẩu bằng với giá bình quân của thế giới (2.200 USD/tấn) Việt Nam có điều kiện thiên nhiên và đất đai thuận lợi để phát triển ngành chè. Chè ở Việt Nam đƣợc trồng chủ yếu trên đất đồi núi ở nhiều tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, miền Trung là Hà Tĩnh và miền Nam là Lâm Đồng và Gia Lai dƣới hai hình thức chủ yếu là nông trƣờng và hộ gia đình. Hiện nay, diện tích đât trồng chè của Việt Nam có khoảng 136. Tuy nhiên ở nƣớc ta việc phát triển cây chè gặp rất nhiều khó khăn, trong đó sâu bệnh hại là nguyên nhân quan trọng, làm tổn thất sản lƣợng từ 15- 30%, chất lƣợng cũng giảm sút.
Trong quá trình canh tác đã xuất hiện nhiều loại sâu bệnh hại chè nhƣ: rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ, nhện đỏ nâu….Vì vậy việc phòng trừ các loại sâu bệnh là nhân tố quan trọng để qui định sự phát triển, duy trì và tăng năng suất cây trồng. Cũng nhƣ một số vùng trồng chè n 2 khác Thái Nguyên có vị trí nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và cây chè đƣợc chuyên canh cao nên rất đa dạng về lƣợng cũng nhƣ loại sâu bệnh hại. Trong công tác BVTV hiện nay ở cây chè cũng nhƣ các loại cây trồng khác, chúng ta tập trung chủ yếu phòng chống sâu bệnh hại bằng các biện pháp đơn lẻ và lấy biện pháp hóa học làm chủ đạo. Biện pháp này có lợi là thuận tiện, dập tắt các đợt dịch nhanh chóng và làm tăng năng suất cây trồng rõ rệt.
Tuy nhiên nó cũng mang lại nhiều tiêu cực là tiêu diệt thiên địch của sâu hại, dễ phát sinh dịch mới, phá vỡ cân bằng sinh thái trong nông nghiệp. Do nhận thức không đầy đủ, việc sử dụng thuốc BVTV của bà con nông dân còn chƣa hiệu quả và không tuân thủ theo đúng nguyên tắc qui định, cũng đã gây ra những ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe ngƣời tiêu dùng, gây ô nhiễm môi trƣờng hệ sinh thái. Không chỉ vậy mà nó còn làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng chè do lƣợng tồn dƣ thuốc BVTV còn tồn tại trong sản phẩm chè vƣợt quá tiêu chuẩn. Do đó trực tiếp gây ảnh hƣởng đến khả năng tiêu thụ của chè.
Phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là một trong những chất hóa học do con ngƣời tạo ra ngoài những mặt lợi nó cũng gây ra những ảnh hƣởng và khó khăn do quá lạm dụng gây ảnh hƣởng trầm trọng đến môi trƣờng. Việc lạm dụng và thói quen thiếu khoa học trong việc bón phân hóa học và sử dụng thuốc BVTV của ngƣời dân đã gây nên tác động lớn đến môi trƣờng. Nhiều nhà nông do thiếu hiểu biết đã thực hiện theo phƣơng châm “phòng hơn chống” đã sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học theo kiểu phòng ngừa định kì vừa tốn kém lại tiêu diệt nhiều loài có ích, gây kháng thuốc với sâu bệnh, càng làm cho sâu bệnh hại phát triển thành dịch và lƣợng thuốc BVTV đƣợc sử dụng càng tăng. Đây là vấn đề cần đƣợc quan tâm vì phần lớn nƣớc ta là vùng sản xuất nông nghiệp, mỗi năm sử dụng lƣợng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là không nhỏ, những hệ lụy tới môi trƣờng là không tránh khỏi.
n 3 Xuất phát từ lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến cây chè và sức khỏe của người dân trồng chè tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên ”.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1.1 Mục tiêu tổng quát - Đánh giá mức độ ảnh hƣởng của thuốc BVTV và phân bón hóa học đến cây chè tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá mức độ ảnh hƣởng của thuốc BVTV và phân bón hóa học đến sức khỏe ngƣời dân trồng chè tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.2 Mục tiêu cụ thể -Đánh giá thực trạng thuốc BVTV và phân bón hóa học tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. - Nghiên cứu ảnh hƣởng của việc sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học đến đặc điểm, tính chất sức khỏe tới ngƣời dân sản xuất chè. - Nâng cao ý thức ngƣời dân cũng nhƣ hiệu quả công tác quản lý thuốc BVTV tại địa phƣơng.
- Đƣa ra các biện pháp và công tác quản lý, sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học cho an toàn.3 Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: + Kết quả nghiên cứu sẽ là cảnh báo về việc sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học không đúng kỹ thuật tại vùng sản xuất chè tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. + Đƣa ra các giải pháp phù hợp góp phần vào việc quản lý môi trƣờng tỉnh Thái Nguyên. n 4 + Củng cố kiến thức cơ sở cũng nhƣ kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn cho công tác bảo vệ môi trƣờng. - Ý nghĩa thực tiễn: + Phản ánh đƣợc hiện trạng sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học tại khu vực trồng chè xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
+ Đƣa ra đƣợc các cảnh báo của thuốc BVTV và phân bón hóa tới sức khỏe ngƣời sản xuất chè, hƣớng ngƣời dân chú ý đến việc sản xuất chè an toàn, thân thiện với môi trƣờng. + Nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cơ quan, nhà nƣớc trong việc quản lý thuốc BVTV tăng cƣờng công tác khuyến nông nhằm nâng cao ý thức ngƣời dân sản xuất chè. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học 2.1 Cơ sở lý luận * Khái niệm chất độc Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lƣợng nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá hủy nghiêm trọng chức năng của cơ thể làm cho sinh vật ngộ độc hoặc chết [6] *Khái niệm liều lƣợng Là lƣợng chất độc cần thiết tính bằng gam hay mg để gây tác động nhất định lên trên cơ thể sinh vật trong nghiên cứu độc lý. Liều lƣợng sử dụng: là liều lƣợng cần thiết dùng để phun trên diện tích nhất định, đƣợc chia ra: - Liều lƣợng hoạt chất: là lƣợng thuốc nguyên chất cần thiết dùng cho một đơn vị diện tích (g, kg) a.i với thuốc ở thể rắn, hoặc (ml) a.i với thuốc ở thể lỏng.i là đơn vị hoạt chất) - Liều lƣợng thuốc thƣơng phẩm: là lƣợng thuốc thƣơng phẩm cần thiết cho một đơn vị diện tích, đƣợc tính bằng g, kg, lít, ml thuốc thƣơng phẩm trên một đơn vị diện tích nào đó.
[6] *Ô nhiễm môi trƣờng do phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật: -Phân bón hóa học: Phân hóa học đƣợc rải trong đất nhằm gia tăng năng suất cây trồng. Nguyên tắc là khi ngƣời ta lấy đi của đất các chất cần thiết cho cây thì ngƣời ta sẽ trả lại đất qua hình thức bón phân. Đây là loại hoá chất quan trọng trong nông nghiệp, nếu sử dụng thích hợp sẽ có hiệu quả rõ rệt đối với cây trồng. Nhƣng nó cũng là con dao 2 lƣỡi, sử dụng không đúng sẽ lợi bất cập hại.
Nếu bón quá nhiều phân hoá học là hợp chất nitơ, lƣợng hấp thu của rễ thực vật n 6 tƣơng đối nhỏ, đại bộ phận còn lƣu lại trong đất, qua phân giải chuyển hoá, biến thành muối nitrat trở thành nguồn ô nhiễm cho mạch nƣớc ngầm và các dòng sông. Cùng với sự tăng lên về số lƣợng sử dụng phân hoá học, độ sâu và độ rộng của loại ô nhiễm này ngày càng nghiêm trọng. Sự tích lũy cao các chất hóa chất dạng phân bón cũng gây hại cho MTST đất về mặt cơ lý tính. Khi bón nhiều phân hóa học làm đất hở nên chặt hơn, độ trƣơng co kém, kết cấu vững chắc, không tơi xốp mà nông dân gọi là đất trở nên “chai cứng”, tính thoáng khí kém hơn đi, vi sinh vật ít đi vì hóa chất hủy diệt vi sinh vật.[4] - Phân hữu cơ: Phần lớn nông dân bón phân hữu cơ chƣa đƣợc ủ và xử lí đúng kĩ thuật nên gây nguy hại cho môi trƣờng đất.
Nguyên nhân là do trong phân chứa nhiều giun sán, trứng giun, sâu bọ, vi trùng và các mầm bệnh khác.khi bón vào đất, chúng có điều kiện sinh sôi nảy nở, lan truyền môi trƣờng xung quanh, diệt một số vi sinh vật có lợi trong đất. Bón phân hữu cơ quá nhiều trong điều kiện yếm khí sẽ làm quá trình khử chiếm ƣu thế; sản phẩm của nó chứa nhiều acid hữu cơ làm môi trƣờng sinh thái đất chua, đồng thời chứa nhiều chất độc nhƣ H2S, CH4, CO2. Sự tích lũy cao các hóa chất dạng phân hóa học sẽ gây hại cho môi trƣờng sinh thái đất về mặt cơ lý tính, đất nén chặt, độ trƣơng co kém, không tơi xốp, tính thoáng khí kém, vi sinh vật cũng ít đi vì hóa chất hủy diệt sinh vật.[4] - Thuốc trừ sâu: Nông dƣợc chiếm một vị trí nổi bật trong các ô nhiễm môi trƣờng. Khác với các chất ô nhiễm khác, nông dƣợc đƣợc rải một cách tự nguyện vào môi trƣờng tự nhiên nhằm tiêu diệt các ký sinh của động vật nuôi và con ngƣời hay để triệt hạ các loài phá hại mùa màng.
Bản chất của nó là những chất hóa học diệt sinh học nên đều có khả năng gây ô nhiễm môi trƣờng đất.