Luận án tiến sĩ nghiên cứu xác định thành phần loài quy luật phát sinh gây hại và biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa hemiptera aleyrodidae tại hai tỉnh long an và an giang

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần loài, quy luật phát sinh gây hại và biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa tại Long An và An Giang.

Chuyên ngành

Bảo vệ thực vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2016

213
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa

Nghiên cứu tập trung vào việc xác định và áp dụng các biện pháp quản lý tổng hợp để kiểm soát bọ phấn trắng hại lúa tại hai tỉnh Long AnAn Giang. Các biện pháp bao gồm sử dụng giống lúa ít nhiễm, điều chỉnh mật độ sạ, bón phân cân đối, và trồng hoa quanh bờ ruộng để thu hút thiên địch. Kết quả cho thấy các biện pháp này giúp giảm thiểu tác hại của bọ phấn trắng mà không ảnh hưởng đến môi trường.

1.1. Sử dụng giống lúa ít nhiễm

Nghiên cứu đã xác định các giống lúa như OM4218nếp IR4625 có khả năng kháng bọ phấn trắng tốt hơn so với các giống khác. Việc sử dụng các giống này giúp giảm thiểu thiệt hại do bọ phấn trắng gây ra, đồng thời duy trì năng suất lúa.

1.2. Điều chỉnh mật độ sạ

Mật độ sạ 120 kg/ha được khuyến nghị để hạn chế sự phát triển của bọ phấn trắng. Mật độ này giúp cây lúa phát triển tốt hơn và giảm áp lực từ dịch hại.

II. Đặc điểm sinh học và sinh thái của bọ phấn trắng

Nghiên cứu đã xác định bọ phấn trắng tại Long AnAn Giang có tên khoa học là Aleurocybotus indicus, thuộc họ Aleyrodidae. Vòng đời trung bình của chúng là 21,93 ngày, bao gồm các giai đoạn thành trùng, trứng, và ấu trùng. Bọ phấn trắng phát triển tốt ở nhiệt độ 30°C và có khả năng sinh sản đơn tính.

2.1. Vòng đời và sinh sản

Vòng đời của bọ phấn trắng bao gồm 3 giai đoạn chính: thành trùng, trứng, và ấu trùng. Ấu trùng có 4 tuổi, trong đó tuổi 4 được gọi là nhộng giả. Bọ phấn trắng có khả năng sinh sản đơn tính, tạo ra thế hệ sau với 100% thành trùng đực.

2.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ

Nhiệt độ 30°C là điều kiện tối ưu cho sự phát triển của bọ phấn trắng. Nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn đều làm giảm khả năng sinh sản và phát triển của chúng.

III. Thiên địch và biện pháp sinh học

Nghiên cứu đã xác định các loài thiên địch của bọ phấn trắng, bao gồm bọ rùa 8 chấm, bọ rùa đỏ, và ong ký sinh Encarsia transvena. Các loài này có khả năng kiểm soát hiệu quả quần thể bọ phấn trắng. Ngoài ra, thuốc sinh học M.b(1,5x109 bt/g) và thuốc hóa học Abamectin 1.8% cũng được đánh giá cao về hiệu quả trừ bọ phấn trắng.

3.1. Thiên địch tự nhiên

Bọ rùa 8 chấmbọ rùa đỏ là những thiên địch bắt mồi hiệu quả của bọ phấn trắng. Ong ký sinh Encarsia transvena cũng được ghi nhận là loài ký sinh quan trọng, giúp giảm mật số bọ phấn trắng.

3.2. Thuốc sinh học và hóa học

Thuốc sinh học M.b(1,5x109 bt/g) có hiệu lực trừ bọ phấn trắng từ 66,0 - 66,8%. Thuốc hóa học Abamectin 1.8%Pymetrozine 500g/kg cũng được đánh giá cao về hiệu quả và ít ảnh hưởng đến thiên địch.

IV. Ảnh hưởng của bọ phấn trắng đến năng suất lúa

Nghiên cứu cho thấy bọ phấn trắng có thể làm giảm năng suất lúa từ 23 - 31% khi mật số đạt 60 con/dảnh. Ấu trùng bọ phấn trắng chích hút nhựa lá, gây vàng lá, trong khi thành trùng có thể làm xoăn lá và co rút lá lúa.

4.1. Tác hại của ấu trùng

Ấu trùng bọ phấn trắng chích hút nhựa lá, làm lá lúa bị vàng và suy yếu. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quang hợp và năng suất lúa.

4.2. Tác hại của thành trùng

Thành trùng bọ phấn trắng có thể làm xoăn lá và co rút lá lúa, gây thiệt hại nghiêm trọng đến năng suất. Tuy nhiên, chưa phát hiện virus trong những cây có triệu chứng xoắn lá.

V. Mô hình quản lý tổng hợp tại Long An và An Giang

Nghiên cứu đã xây dựng và áp dụng thành công mô hình quản lý tổng hợp bọ phấn trắng tại Long AnAn Giang. Mô hình bao gồm các biện pháp canh tác, sử dụng thiên địch, và thuốc sinh học, giúp giảm thiểu thiệt hại do bọ phấn trắng gây ra và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân.

5.1. Mô hình tại Long An

Tại Long An, mô hình áp dụng các biện pháp như sử dụng giống lúa kháng, điều chỉnh mật độ sạ, và trồng hoa quanh bờ ruộng. Kết quả cho thấy mật số bọ phấn trắng giảm đáng kể, đồng thời năng suất lúa được cải thiện.

5.2. Mô hình tại An Giang

Tại An Giang, mô hình tập trung vào việc sử dụng thiên địch và thuốc sinh học để kiểm soát bọ phấn trắng. Kết quả cho thấy hiệu quả kinh tế cao, giúp nông dân giảm chi phí và tăng thu nhập.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu xác định thành phần loài quy luật phát sinh gây hại và biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa hemiptera aleyrodidae tại hai tỉnh long an và an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở khoa học của đề tài Trên thế giới có 1.556 loài bọ phấn trắng thuộc 161 giống (Martin và Mound, 2007). Trong đó, bọ phấn trắng Aleurocybotus indicus David & Subramaniam đã được tìm thấy tại Satara - Ấn Độ năm 1966, được xác định là dịch hại chính trên lúa ở Senegal và Niger năm 1977 và có thể làm thất thu năng suất đến 80% (Alam, 1989; Abdou, 1992). Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy bọ phấn trắng A.

indicus là côn trùng nhỏ, hai cánh phủ đầy một lớp bột hoặc sáp màu trắng. Ấu trùng bọ phấn trắng có 4 tuổi, tuổi đầu tiên di động trong khoảng cách gần, các tuổi tiếp theo nằm cố định để chích hút và ấu trùng tuổi cuối được gọi là nhộng giả. Vòng đời của bọ phấn trắng dao động từ 17 đến 24 ngày tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và ẩm độ không khí. Cũng giống với các loài bọ phấn trắng khác, thành trùng cái A.

indicus có thể sống lâu hơn thành trùng đực và nếu không được giao phối thì thế hệ sau sẽ nở toàn con đực (Rusell, 2000; Trần Ngọc Xuyến, 2011 và Phan Thị Hạnh Trang, 2011). Trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu về biện pháp quản lý tổng hợp đối với bọ phấn trắng hại lúa A. indicus nhưng có rất nhiều nghiên cứu trên các loài bọ phấn trắng hại rau màu và cây ăn trái như Bemisia tabaci, Aleurodicus disperses, Trialeurodes vaporariorum,… Trong đó, biện pháp sinh học cũng đã được đưa ra để phòng trừ bọ phấn trắng có hiệu quả tốt giống như biện pháp hóa học là sử dụng thuốc trừ sâu sinh học từ Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae, Paecilomyces fumosoroseus, Aschersonia aleyrodis và Verticillium lecanii (Osborne và Landa, 1992; Davidson và ctv. Dịch trích từ một số loài cây như Petunia (Dạ Yến Thảo), neem (Azadirachta indica), harmal (Peganum harmala L.), Solanaceae (cà độc dược) cũng có thể được sử dụng như thuốc trừ BPT hoặc chất ức chế tự nhiên (Kays và ctv., 1994; Kumar và Poehling, 2007).

Thiên địch bắt mồi BPT như Amblyseius spp. và ong ký sinh như Encarsia spp., Amitus bennetti đã được thương mại để phòng trừ B. tabaci (Meyerdirk và Coudriet, 1986; Takahashi và 5 ctv. Tại Việt Nam, bọ phấn trắng gây hại nghiêm trọng tại nhiều vùng trồng lúa ở ĐBSCL trong vụ lúa Hè Thu 2010, tuy nhiên, chưa xác định được tên khoa học cũng như biện pháp phòng trừ.

Do đó việc xác định được chính xác loài gây hại, đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh, gây hại sẽ là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, phát triển biện pháp quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa tại Việt Nam theo hướng hiệu quả và an toàn. Thành phần loài và khả năng gây hại của bọ phấn trắng trên thế giới và Việt Nam 1. Thành phần loài bọ phấn trắng Theo Mound và Halsey (1978), trên thế giới có khoảng 1.156 loài bọ phấn trắng thuộc 126 giống nằm trong danh mục bọ phấn trắng gần nhất trên thế giới. Sau đó, có nhiều loài mới, giống mới được mô tả và một số loài khác đã được giám định lại.

Martin và Mound (2007) đã công bố danh sách bọ phấn trắng trên thế giới gồm 1.556 loài thuộc 161 giống của 3 họ phụ còn sống (Aleurodicinae, Aleyrodinae và Udamosellinae), và một họ phụ đã hoá thạch (không còn tồn tại) là Bernaeinae. Họ phụ Aleurodicinae phân bố chủ yếu ở vùng Tây Bán Cầu và bao gồm 118 loài thuộc 18 giống. Họ phụ Aleyrodinae phân bố rộng rãi trên thế giới và gồm 1.424 loài thuộc 148 giống. Họ phụ Udamosellinae gồm hai loài ở Nam Mỹ thuộc giống Udamoselis (Evans, 2008).

Sự đa dạng về giống, loài của mỗi họ phụ rất khác nhau giữa các vùng địa lý. Họ phụ Aleyrodinae chiếm số lượng loài lớn với tổng số 1.435 loài thuộc 148 giống trên toàn thế giới. Họ phụ Aleyrodinae ở vùng địa động vật Đông Phương có số lượng loài phong phú nhất với 542 loài thuộc 73 giống. Họ phụ này ở vùng Châu Phi có số loài bằng một nửa số loài ở vùng địa động vật Đông Phương (chỉ với 285 loài).

Đối với vùng Trung Mỹ và Nam Mỹ, họ phụ Aleyrodinae có số lượng giống, loài cũng chiếm gần bằng một nửa số lượng giống, loài của vùng địa động vật Đông Phương (chỉ với 211 loài thuộc 42 giống) (Evans, 2008). Giống Aleuroclava của họ phụ Aleyrodinae có số lượng loài nhiều nhất, với 118 loài. Tại vùng địa động vật Đông Phương, giống này chiếm vị trí đứng đầu về sự đa dạng loài (với 86 loài) và 6 vùng Đông Âu chỉ có 33 loài. Ở các vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ và Tây Âu có nhiều loài là dịch hại ngoại lai thuộc giống Aleuroclava như Aleuroclava similis, Aleuroclava jasmini.

Hai giống Aleuroplatus và Trialeurodes của họ phụ này có số loài gây hại trong nhà kính nhiều nhất. Loài Trialeurodes vaporariorum có mặt trong nhà kính ở tất cả các vùng địa lý trên thế giới, các loài khác còn lại của hai giống này có phân bố ở 1 - 3 vùng địa lý (Evans, 2008). Họ phụ Aleurodicinae gồm 118 loài thuộc 18 giống. Mặc dù các loài thuộc họ phụ này xuất hiện ở cả các vùng trên thế giới nhưng vùng Trung Mỹ và Nam Mỹ có số lượng và đa dạng loài lớn hơn rất nhiều so với các vùng khác, với 102 loài thuộc 15 giống (chiếm đến 85% tổng số loài của họ phụ Aleurodicinae trên toàn thế giới).

Trong đó, giống Aleurodicus của họ phụ Aleurodicinae có số lượng loài nhiều nhất (với 35 loài), tiếp theo là giống Paraleyrodes (với 17 loài), không có giống Palaealeurodicus. Ở vùng địa động vật Đông Phương, họ phụ Aleurodicinae có số lượng giống, loài rất ít (chỉ với 18 loài thuộc 5 giống). Trong đó giống Palaealeurodicus được phát hiện có nhiều loài nhất với 6 loài trong tổng số 18 loài (Evans, 2008). Họ phụ Udamosellinae gồm có hai loài thuộc giống Udamoselis là loài Udamoselis estrellamarinae Martin gây hại trên cây trồng thuộc họ Na (Annona prob.

muricata) ở Ecuador và loài Udamoselis pigmentaria Enderlein 1909 ở Nam Mỹ (chưa biết thông tin về ký chủ) (Evans, 2008). Khả năng gây hại của bọ phấn trắng trên thế giới và Việt Nam 1. Khả năng gây hại của bọ phấn trắng trên thế giới a. Loài Aleurodicus dispersus Russell Trong họ phụ Aleurodicinae, loài Aleurodicus dispersus Russell có nhiều ký chủ nhất và phân bố trên nhiều quốc gia trên thế giới.

dispersus có nguồn gốc ở vùng Ca-ri-bê và trung tâm của Mỹ. Bọ phấn trắng A. disperses được ghi nhận đầu tiên ở bang Florida 1957. Ở Thái Bình Dương, chúng được ghi nhận ở Hawaii năm 1978, Guan năm 1981 và sau đó là các quần đảo khác (Waterhouse và Norris, 1989).

Tại Châu Á, loài bọ phấn trắng này được phát hiện ở Philippine năm 7 1981, Indonesia năm 1991, Ấn Độ năm 1993, Bangladesh năm 1997 và ở Trung Quốc năm 2006 (Yu và ctv. disperses là dịch hại đa ký chủ và đã tấn công 481 loài cây trồng ở Ấn Độ. Chúng gây hại trực tiếp bằng cách chích hút và làm giảm bề mặt quang hợp của cây do tiết ra chất mật thu hút nấm bồ hóng phát triển (Srinivasa, 2000). Bọ phấn trắng A.

dispersus có thể gây hại theo 3 cách sau: gây hại trực tiếp, gây hại gián tiếp và truyền bệnh virus. Chúng gây hại trực tiếp bằng cách chích hút dịch của lá cây non làm cho lá rụng. Tuy nhiên, bằng cách gây hại trực tiếp, ngay cả mật số bọ phấn trắng cao cũng không làm chết cây. Bọ phấn trắng gây hại gián tiếp thông qua sự bài tiết chất mật ngọt và lớp sáp trắng tạo môi trường thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển, làm đen bề mặt lá, giảm khả năng quang hợp và làm giảm giá trị thương phẩm của sản phẩm (Berlinger, 1986).

Bọ chích hút ở cây bệnh khảm do virus, sau đó bay sang chích hút ở cây khỏe và truyền virus qua cây này làm cho cây bị nhiễm virus với các triệu chứng thể hiện như: chùn đọt, ngừng sinh trưởng, cây yếu, thất thu năng suất trầm trọng. Ấu trùng và thành trùng thích tụ tập ở mặt dưới lá nhưng thỉnh thoảng đậu ở mặt trên của lá cây ký chủ, thân cây muồng và trái đu đủ để hút nhựa. Theo Geetha (2000), BPT chích hút làm cho lá non bị rụng và làm lá bị bạc ở Tamilnadu. diserpsus gây hại làm giảm chất lượng của lá chuối được dùng để phục vụ trong chế biến thực phẩm ở Nam Ấn Độ (Mani và ctv.

Chúng gây hại nặng dẫn đến giảm năng suất 53,1% trên cây bột sắn hột (tapioca) ở Ấn Độ (Geetha, 2000). Loài Bemisia tabaci Gennadius Loài B. tabaci là dịch hại cây trồng chủ yếu ở vùng nhiệt đới. Chúng phân bố rộng rãi nhiều nơi như miền Nam nước Mỹ, phía bắc Carolina, Mỹ và Canada.

Ngoài ra, chúng còn phân bố rộng khắp quần đảo Ca-ri-bê, Trung và Nam Mỹ, Mexico; miền nam châu Âu, châu Phi, Ấn Độ và Úc (Heather, 2000). tabaci là loài đa ký chủ, gây hại trên 500 loài thực vật thuộc 74 họ bao gồm trên rau màu và cây cảnh. Trong số những loại cây trồng quan trọng được trồng ở Florida, B. tabaci 8 là dịch hại chủ yếu trên cây cà chua, ớt, bí, dưa chuột, đậu, cà tím, bắp cải, dưa hấu khoai tây, đậu nành, lạc và bông (Heather, 2000).

Bọ phấn trắng B. tabaci là loài đa ký chủ hại nhiều loại cây trồng nhưng gây hại mạnh nhất trên cây họ cà, bầu bí và đậu đỗ. Bọ phấn trắng chích hút dịch cây, nhất là ngọn và phần non ở phía dưới của thân cây. Cây có nhiều BPT thường bị yếu và có thể héo, chuyển màu vàng, nếu mật số BPT gây hại cao trong thời gian dài sẽ làm chết cây.

Tác hại chủ yếu của B. tabaci là môi giới truyền bệnh virus xoắn lá cà chua, khoai tây. Tỷ lệ bệnh xoắn lá trên ruộng cà chua tăng dần theo mật số BPT (Phạm Thị Nhất, 2002). tabaci có thể gây hại cho những cây ký chủ bằng nhiều cách.

Thành trùng và ấu trùng của chúng có thể chích hút đến chết cây con, làm giảm sức sống và giảm năng suất ở những cây lớn. Ngoài ra, chúng còn tiết mật ngọt làm cho nấm bồ hóng phát triển làm giảm quá trình quang hợp của lá cây, giảm chất lượng quả (Heather, 2000). Ấu trùng của B. tabaci chích hút có thể gây rối loạn phát triển sinh lý của cây ký chủ.

Cà chua chín không đều lần đầu tiên được ghi nhận ở Florida vào năm 1987. Những cây cà chua có B. tabaci phát triển thì trái không thể hiện màu sắc bình thường tạo thành những đốm, các mô bên trong có thể có màu trắng, cứng và chưa chín. Năm 1989, người dân trồng cà chua ở Florida bị mất 25.000 đô la Mỹ do cà chua chín không đều.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu quản lý tổng hợp bọ phấn trắng hại lúa tại Long An và An Giang là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc tìm hiểu và đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả đối với bọ phấn trắng, một loài gây hại nghiêm trọng cho cây lúa tại hai tỉnh Long An và An Giang. Nghiên cứu này không chỉ phân tích đặc điểm sinh học của bọ phấn trắng mà còn đưa ra các giải pháp tổng hợp, bao gồm cả biện pháp sinh học và hóa học, nhằm giảm thiểu thiệt hại và nâng cao năng suất lúa. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho nông dân, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý nông nghiệp trong việc bảo vệ cây trồng một cách bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các loài gây hại khác và biện pháp quản lý, bạn có thể tham khảo thêm Luận án nghiên cứu đặc điểm sinh học của rệp sáp bột hồng hại sắn và khả năng khống chế rệp của ong ký sinh, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi đục quả trên bưởi da xanh, và Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến đặc điểm sinh học của sâu keo da láng hại hành. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các loài gây hại khác và cách quản lý chúng hiệu quả.