Tổng quan luận án
Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), có nguồn gốc từ vùng Đông Bắc Brazil, là cây lương thực ăn củ giữ vị trí thứ tư tại các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì. Hiện diện tại hơn 100 quốc gia, sắn là nguồn lương thực cho trên 500 triệu người. Tại Việt Nam, sau khi được du nhập vào giữa thế kỷ XVIII, sắn đã chuyển từ cây lương thực truyền thống sang cây công nghiệp hàng hóa phục vụ chế biến tinh bột, thức ăn chăn nuôi, phụ gia dược phẩm và sản xuất nhiên liệu sinh học. Tuy nhiên, sự xâm nhiễm của các loài sinh vật gây hại ngoại lai, đặc biệt là rệp sáp bột hồng hại sắn (Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero, 1977), đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất sắn.
Rệp sáp bột hồng tấn công vào điểm sinh trưởng, chích hút nhựa ở ngọn, lá và thân, làm cây bị chùn ngọn, xoắn lá, rụng lá hàng loạt, dẫn đến giảm năng suất củ từ 52% đến 58%, và tại những vùng bị nhiễm nặng tỷ lệ thất thu có thể lên tới 84%. Tại Việt Nam, loài dịch hại này được phát hiện lần đầu vào tháng 2 năm 2012 tại tỉnh Tây Ninh, sau đó lây lan nhanh sang 13 tỉnh thành thuộc Đông Nam Bộ, miền Trung và miền núi phía Bắc. Tại tỉnh Quảng Trị, nơi có diện tích trồng sắn đạt 11.771,5 ha (năm 2014), rệp sáp bột hồng xuất hiện từ tháng 8 năm 2013 và gây hại tại các huyện Cam Lộ, Hải Lăng, Hướng Hóa, Vĩnh Linh và Triệu Phong. Biện pháp sử dụng thuốc trừ sâu hóa học gặp nhiều hạn chế do tập tính ẩn nấp của rệp trong ngọn non và lớp bột sáp bảo vệ cơ thể, đồng thời gây ô nhiễm môi trường và tiêu diệt các loài thiên địch tự nhiên. Do đó, việc nghiên cứu các đặc điểm sinh thái, sinh học của rệp và đánh giá hiệu quả kiểm soát sinh học bằng ong ký sinh chuyên tính Anagyrus lopezi (De Santis, 1964) là yêu cầu cấp thiết để xây dựng quy trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) bền vững.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Xác định tần suất bắt gặp, mật độ của rệp sáp bột hồng hại sắn (P. manihoti) và thành phần các loài chân khớp (côn trùng và nhện) hại sắn tại tỉnh Quảng Trị.
- Xác định các đặc điểm sinh học của rệp sáp bột hồng hại sắn (P. manihoti) bao gồm kích thước, khối lượng, thời gian phát dục, tỷ lệ sống sót, khả năng sinh sản, ngưỡng nhiệt phát dục, tổng tích ôn hữu hiệu và các chỉ số phát triển quần thể dưới tác động của các dải nhiệt độ và các giống sắn khác nhau.
- Đánh giá khả năng khống chế rệp sáp bột hồng hại sắn của loài ong ký sinh Anagyrus lopezi thông qua tính chọn lựa tuổi ký chủ, thời gian phát dục, sức sinh sản, tỷ lệ ký sinh và tỷ lệ tiêu diệt rệp trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thành phần côn trùng và nhện hại sắn; rệp sáp bột hồng hại sắn (Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero, 1977); ong ký sinh Anagyrus lopezi (De Santis, 1964); 5 giống sắn (Manihot esculenta) gồm KM94, KM981, KM444, KM419, HL23.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa tại 5 huyện trồng sắn trọng điểm thuộc tỉnh Quảng Trị (Hải Lăng, Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh, Hướng Hóa); các thí nghiệm sinh học được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Côn trùng học và Nhà lưới thuộc Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ năm 2015 đến năm 2018 (trong đó công tác điều tra thực địa tại Quảng Trị tiến hành định kỳ từ tháng 02/2016 đến tháng 10/2016).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu trên thế giới ghi nhận công bố của Bellotti (2002) xác định có 36 loài chân khớp gây hại trên cây sắn tại ba châu lục, trong đó châu Mỹ có 36 loài, châu Phi có 15 loài và châu Á có 9 loài. Về định danh loài, Matile-Ferrero (1977) lần đầu mô tả Phenacoccus manihoti từ mẫu thu ở Congo và Zaire. Đến năm 1981, Cox và Williams phân biệt loài này với Phenacoccus herreni và Phenacoccus surinamensis. Parsa và cộng sự (2012) hoàn thiện khóa định loại cho 29 loài rệp sáp giả (Pseudococcidae) tại châu Á. Về đặc điểm phát sinh và sinh học, các công trình của Nwanze (1978, 1982), Iheagwam (1981), Lema và Herren (1985), Schulthess và cộng sự (1987), Calatayud và Le Rü (2006), Barilli và cộng sự (2014) đã phân tích thời gian phát dục, sức sinh sản và ngưỡng phát triển của P. manihoti dưới các ngưỡng nhiệt độ và trên các ký chủ khác nhau.
Về biện pháp kiểm soát sinh học, loài ong ký sinh Anagyrus lopezi (đồng danh: Epidinocarsis lopezi, Apoanagyrus lopezi) có nguồn gốc từ Nam Mỹ đã được Viện Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (IITA) và Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) du nhập vào châu Phi từ năm 1981. Các nghiên cứu của Herren, Neuenschwander, Löhr và cộng sự (1989, 1990), Umeh (1988), Souissi và Le Rü (1997) chứng minh ong A. lopezi có khả năng làm giảm mật độ rệp sáp bột hồng từ 90% đến 95%, đem lại lợi ích kinh tế hàng tỷ USD tại 27 quốc gia châu Phi với tỷ lệ lợi ích - chi phí đạt mức cao. Tại Đông Nam Á, Wyckhuys và cộng sự (2014) cùng Winotai ghi nhận sự lây lan của P. manihoti tại Thái Lan (2008), Campuchia, Lào (2009), Indonesia (2010), Việt Nam (2012) và việc nhập nội ong A. lopezi vào Thái Lan, Campuchia đã khống chế dịch hại đạt hiệu quả trên 80%.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Trịnh Xuân Hoạt, Cục Bảo vệ Thực vật và các Chi cục Trồng trọt - Bảo vệ thực vật (2012 - 2016) tập trung chủ yếu vào việc ghi nhận hiện trạng xâm nhiễm, thống kê diện tích gây hại tại các tỉnh (Tây Ninh, Phú Yên, Quảng Trị...) và hướng dẫn xử lý hom giống bằng hóa chất (Thiamethoxam, Dinotefuran, Imidacloprid, Nitenpyram). Nghiên cứu sinh học đối với ong ký sinh A. lopezi bước đầu được ghi nhận tại Tây Ninh qua các đợt thả phóng thích thử nghiệm.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Trước thời điểm luận án thực hiện, tại Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về các thông số sinh học định lượng của loài P. manihoti (vòng đời, thời gian phát dục từng pha, tỷ lệ sống sót, sức đẻ trứng, nhịp điệu sinh sản, ngưỡng nhiệt phát dục cơ sở $T_0$, tổng tích ôn hữu hiệu $DD$, bảng sống phát triển quần thể $R_0, T, r_m$) trong điều kiện nhiệt độ và trên các bộ giống sắn đang canh tác tại Việt Nam. Đồng thời, các chỉ số sinh học của ong ký sinh A. lopezi, tính lựa chọn tuổi ký chủ và khả năng tiêu diệt rệp trong điều kiện phòng thí nghiệm chưa được đánh giá định lượng làm cơ sở cho việc chuẩn hóa quy trình nhân nuôi và ứng dụng sinh học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết và khung phân tích chuyên ngành côn trùng học và sinh thái học côn trùng:
- Khung lý thuyết bảng sống và động thái quần thể côn trùng theo mô hình Birch (1948): xác định tỷ lệ sinh sản thực tế ($R_0$), thời gian thế hệ trung bình ($T$) và tốc độ tăng trưởng nội tại ($r_m$) thông qua phương trình:
$$R_0 = \sum l_x m_x$$
$$T = \frac{\sum x l_x m_x}{\sum l_x m_x}$$
$$\sum e^{-r_m x} l_x m_x = 1$$
(trong đó $x$ là tuổi tính theo ngày sau vũ hóa, $l_x$ là tỷ lệ sống đến ngày $x$, $m_x$ là số cá thể cái sinh ra từ một cá thể cái ở ngày $x$).
- Quy luật nhiệt độ và tốc độ phát dục tuyến tính: mô hình $y = ax + b$ (với $y = 1/D$ là tốc độ phát dục, $x$ là nhiệt độ môi trường, $a$ và $b$ là các hệ số hồi quy). Từ đó xác định ngưỡng nhiệt phát dục cơ sở $T_0 = -b/a$ và tổng tích ôn hữu hiệu $DD = 1/a$ theo phương pháp của Campbell và cộng sự (1974).
- Nguyên lý kiểm soát sinh học tương tác ký sinh - ký chủ giữa ong chuyên tính A. lopezi và rệp sáp bột hồng P. manihoti.
| Phương pháp nghiên cứu |
Quy mô / Mẫu / Địa bàn |
Dụng cụ, Thiết bị & Kỹ thuật |
| Điều tra thực địa chân khớp |
5 huyện tại Quảng Trị (Hải Lăng, Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh, Hướng Hóa). 5 ruộng/huyện, 10 điểm ngẫu nhiên/ruộng theo 2 đường chéo góc, 3 cây/điểm. Điều tra 30 ngày/lần (02/2016 - 10/2016). |
Kính lúp cầm tay, kính lúp soi nổi (độ phóng đại 10 - 50 lần). Tính tần suất bắt gặp (%), mật độ rệp (con/ngọn sắn), tỷ lệ thành phần loài (%). Theo quy trình Viện BVTV (2000) và Wyckhuys (2014). |
| Nhân nuôi duy trì quần thể |
Thu mẫu rệp từ Hải Lăng, nhân nuôi qua 4 - 5 thế hệ trên giống KM94. Ong ký sinh A. lopezi nhân nuôi trong hộp nhựa 0,5 lít. |
Lồng nuôi sâu (60 x 160 x 180 cm), phòng thí nghiệm $25 - 30^\circ\text{C}$, ẩm độ 70 - 80%, L:D = 12:12. Thức ăn cho ong là mật ong pha loãng 50% và rệp sáp tuổi 3/trưởng thành. |
| Đo kích thước và khối lượng rệp |
3 điều kiện nuôi trên giống KM94 (ngọn sắn trong PTN, ngọn sắn trong tủ định ôn, cây sắn trong PTN). 3 lần lặp lại, 30 cá thể/điều kiện. |
Thước kẹp pame, kính lúp soi nổi, cân điện tử 4 số. Đo chiều dài, chiều rộng pha trứng, rệp non tuổi 1, 2, 3 và trưởng thành; cân khối lượng trưởng thành. |
| Nghiên cứu sinh học rệp theo nhiệt độ |
Tủ định ôn ở 9 mức nhiệt độ: 15; 17,5; 20; 22,5; 25; 27,5; 30; 32,5 và $35^\circ\text{C}$ (ẩm độ 65 - 85%, L:D = 12:12). 3 lần lặp, 30 cá thể/mức nhiệt. |
Tủ định ôn Sony MIR-253, hộp nhựa thông khí (10 x 8 x 5 cm). Theo dõi thời gian phát dục từng tuổi, tỷ lệ sống sót, thời gian tiền đẻ trứng, thời gian đẻ trứng, sức sinh sản, nhịp điệu sinh sản, lập bảng sống Birch. |
| Nghiên cứu sinh học rệp theo thức ăn |
5 giống sắn: KM94, KM981, KM444, KM419, HL23. 3 lần lặp, 30 cá thể/giống. Thí nghiệm lựa chọn thức ăn trong hộp (30 x 40 x 30 cm) theo dõi 7 ngày. Thí nghiệm nhà lưới (100 chậu). |
Đánh giá thời gian phát dục, tỷ lệ sống sót, khả năng đẻ trứng. Đo lường tỷ lệ tập trung rệp non trên các giống từ ngày 1 đến ngày 7. Theo dõi mật độ (con/cây), tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) trong nhà lưới. |
| Nghiên cứu ong ký sinh A. lopezi |
Đánh giá trên các tuổi rệp (tuổi 1, 2, 3, trưởng thành) ở các mức nhiệt độ. Đánh giá ở các mật độ ký chủ khác nhau. |
Xác định tỷ lệ ký sinh (hình thành xác rệp màu nâu đen - mummy), tỷ lệ vũ hóa, tỷ lệ ong cái, thời gian phát dục của ong, số lượng và tỷ lệ rệp chết do ong gây ra trong phòng thí nghiệm. |
| Xử lý số liệu thống kê |
Toàn bộ dữ liệu thực nghiệm và điều tra. |
Phần mềm thống kê sinh học, phân tích phương sai ANOVA, so sánh giá trị trung bình bằng kiểm định LSD ở mức ý nghĩa $p < 0,05$, phân tích hồi quy tuyến tính xác định $R^2$. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng hợp các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế về nguồn gốc, giá trị kinh tế của cây sắn, thành phần các loài chân khớp hại sắn, lịch sử phát sinh và phân bố của rệp sáp bột hồng (P. manihoti), cùng các biện pháp quản lý dịch hại. Tác giả phân tích chi tiết các kết quả nghiên cứu hình thái, tập tính sinh thái, dải nhiệt độ thích ứng của rệp từ các công trình tại châu Phi (Congo, Nigeria, Zaire) và châu Á (Thái Lan, Campuchia, Indonesia, Malaysia). Đồng thời, chương 1 trình bày lịch sử kiểm soát sinh học bằng ong ký sinh Anagyrus lopezi, cơ chế ký sinh, sự biến động tỷ lệ đực/cái theo tuổi ký chủ, và các đánh giá về hiệu quả kinh tế - sinh thái của thiên địch này tại các vùng trồng sắn trên thế giới và hiện trạng du nhập thử nghiệm tại miền Nam Việt Nam.
Chương 2: Đối tượng, vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu gồm côn trùng, nhện hại sắn, rệp sáp bột hồng và ong ký sinh A. lopezi; địa bàn thực địa tại 5 huyện tỉnh Quảng Trị và cơ sở thí nghiệm tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Huế trong giai đoạn 2015 - 2018. Tác giả trình bày chuẩn hóa các phương pháp:
- Phương pháp điều tra cơ bản sâu hại ngoài đồng ruộng (tần suất bắt gặp, mật độ, tỷ lệ thành phần loài).
- Kỹ thuật nhân nuôi duy trì quần thể rệp trên giống KM94 và ong ký sinh trong hộp chuyên dụng.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm đánh giá kích thước, khối lượng cơ thể qua các pha phát dục.
- Phương pháp xác định thời gian phát dục, tỷ lệ sống sót, sức sinh sản, nhịp điệu đẻ trứng, tỷ lệ phát triển quần thể ($R_0, T, r_m$) và xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính tính $T_0, DD$ dưới 9 mức nhiệt độ kiểm soát ($15 - 35^\circ\text{C}$).
- Phương pháp bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của 5 giống sắn (KM94, KM981, KM444, KM419, HL23) đến các chỉ tiêu sinh học của rệp trong phòng thí nghiệm, kiểm tra tính lựa chọn thức ăn (từ ngày 1 đến ngày 7), và đánh giá mật độ, tỷ lệ hại, chỉ số hại trong điều kiện nhà lưới.
- Phương pháp khảo sát đặc tính sinh học của ong A. lopezi: tính lựa chọn tuổi rệp ký chủ, thời gian phát dục của ong, tỷ lệ ký sinh (hình thành mummy), tỷ lệ vũ hóa, tỷ lệ giới tính, khả năng tiêu diệt rệp theo mật độ và thời gian sau vũ hóa.
- Phương pháp xử lý dữ liệu bằng phân tích phương sai ANOVA và kiểm định LSD.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và khảo sát thực địa qua 4 phân mục chính:
- Thành phần côn trùng và nhện hại sắn tại Quảng Trị: Báo cáo danh mục các loài chân khớp hại sắn bắt gặp tại 5 huyện điều tra; tần suất bắt gặp, tỷ lệ thành phần loài và diễn biến mật độ của các loài rệp sáp gây hại trên đồng ruộng trong năm 2016.
- Đặc điểm sinh học của rệp sáp bột hồng hại sắn: Cung cấp số liệu chi tiết về kích thước cơ thể (chiều dài, chiều rộng) của trứng, rệp non 3 tuổi, trưởng thành và khối lượng trưởng thành ở 3 điều kiện nuôi. Xác định biến thiên thời gian phát dục và tỷ lệ sống sót qua 9 mức nhiệt độ. Trình bày phương trình hồi quy tuyến tính giữa nhiệt độ và tốc độ phát dục, từ đó xác định khởi điểm phát dục ($T_0$) và tổng tích ôn hữu hiệu ($DD$) cho từng pha và cả vòng đời. Phân tích các thông số sinh sản (thời gian tiền đẻ trứng, đẻ trứng, hậu đẻ trứng, nhịp điệu đẻ trứng theo ngày) và bảng sống xác định các chỉ số $R_0, T, r_m$ qua các dải nhiệt độ.
- Đặc điểm sinh học của rệp trên các giống sắn khác nhau: Đánh giá sự khác biệt về thời gian phát dục, tỷ lệ sống sót và sức sinh sản của rệp khi nuôi trên 5 giống sắn (KM94, KM981, KM444, KM419, HL23). Phân tích đồ thị lựa chọn thức ăn của rệp non từ ngày 1 đến ngày 7. Trình bày số liệu theo dõi mật độ rệp (con/cây), tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) trên các giống sắn qua các tuần theo dõi trong nhà lưới.
- Khả năng khống chế rệp của ong ký sinh Anagyrus lopezi: Đánh giá định lượng tỷ lệ ký sinh, tỷ lệ vũ hóa và tỷ lệ ong cái trên 4 nhóm tuổi ký chủ (tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3, trưởng thành) ở các mức nhiệt độ. Xác định thời gian phát dục của ong từ khi đẻ trứng đến hình thành xác rệp màu nâu đen (mummy) và đến khi vũ hóa. Khảo sát sức sinh sản, biến thiên khả năng ký sinh theo số ngày sau vũ hóa của ong cái, tỷ lệ nhân quần thể của ong, và khả năng tiêu diệt rệp ở các mật độ ký chủ khác nhau trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Luận án đã xác định được khoảng nhiệt độ tối thích cho sự sinh trưởng và phát triển quần thể của rệp sáp bột hồng hại sắn (Phenacoccus manihoti) là từ $25^\circ\text{C}$ đến $30^\circ\text{C}$. Đã thiết lập được phương trình hồi quy tuyến tính, qua đó xác định khởi điểm phát dục cơ sở ($T_0$) và tổng tích ôn hữu hiệu ($DD$) cho các giai đoạn phát dục của rệp, trong đó khởi điểm phát dục của toàn bộ vòng đời rệp là $8,18^\circ\text{C}$ và tổng tích ôn hữu hiệu là $562,9^\circ\text{C}$.
- Luận án đã đánh giá định lượng phản ứng sinh học của P. manihoti trên 5 giống sắn phổ biến và triển vọng tại Việt Nam, xác định được giống sắn KM981 có khả năng chống chịu rệp sáp bột hồng tốt nhất (biểu hiện qua thời gian phát dục kéo dài, tỷ lệ sống sót, khả năng sinh sản của rệp thấp hơn, đồng thời mật độ, tỷ lệ hại và chỉ số hại trên đồng ruộng/nhà lưới thấp nhất).
- Luận án đã xác định được giai đoạn ký chủ phù hợp nhất của ong ký sinh Anagyrus lopezi là rệp non tuổi 3 và rệp trưởng thành. Nhiệt độ thích hợp nhất cho hoạt động ký sinh của ong A. lopezi đối với rệp sáp bột hồng hại sắn được xác định là $27,5^\circ\text{C}$. Luận án cũng xác định được ong ký sinh A. lopezi có khả năng tiêu diệt rệp sáp bột hồng đạt hiệu quả cao nhất vào ngày thứ hai sau khi vũ hóa.
Đề xuất và giải pháp thực tiễn
- Cơ cấu giống: Khuyến nghị đưa giống sắn có khả năng chống chịu KM981 vào cơ cấu sản xuất tại các vùng có nguy cơ cao hoặc đang bị rệp sáp bột hồng xâm nhiễm để hạn chế mật độ quần thể dịch hại.
- Ứng dụng kiểm soát sinh học: Hoàn thiện quy trình nhân nuôi nhân tạo ong ký sinh Anagyrus lopezi trong điều kiện nhiệt độ kiểm soát ($25 - 30^\circ\text{C}$, tối ưu ở $27,5^\circ\text{C}$), sử dụng rệp non tuổi 3 và rệp trưởng thành làm ký chủ nhân nuôi; thả ong ra đồng ruộng vào thời điểm 1 - 2 ngày sau khi vũ hóa nhằm tối ưu hóa hiệu quả khống chế rệp ngoài tự nhiên.
- Biện pháp canh tác và kiểm dịch: Thực hiện nghiêm ngặt khâu chọn lọc và xử lý hom giống trước khi trồng, vệ sinh đồng ruộng tiêu hủy triệt để tàn dư cây sắn bị nhiễm rệp, duy trì chế độ bón phân cân đối, hạn chế sử dụng thuốc hóa học phổ rộng để bảo tồn và phát huy hiệu quả của ong ký sinh A. lopezi trong tự nhiên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Các nghiên cứu đánh giá về khả năng ký sinh và khống chế rệp của ong Anagyrus lopezi trong luận án chủ yếu được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lưới có kiểm soát. Số liệu điều tra thành phần chân khớp hại sắn tại thực địa giới hạn trong phạm vi 5 huyện của tỉnh Quảng Trị trong vụ sắn năm 2016.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng thử nghiệm nhân thả phóng thích ong ký sinh A. lopezi trên diện rộng ngoài đồng ruộng thực tế tại các vùng sinh thái trồng sắn khác nhau ở miền Trung và miền Bắc để đánh giá tính thích nghi sinh thái và khả năng định cư lâu dài của quần thể ong.
- Nghiên cứu sâu hơn về tương tác giữa ong ký sinh A. lopezi với các loài thiên địch bản địa khác và các loài siêu ký sinh (hyperparasitoids) có thể ảnh hưởng đến hiệu quả khống chế rệp sáp bột hồng tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Bảo vệ thực vật, Côn trùng học nông nghiệp, Động vật học, Sinh thái học; cán bộ nghiên cứu tại các Viện/Trung tâm Bảo vệ thực vật; cán bộ kỹ thuật tại các Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật các tỉnh trồng sắn; các nhà hoạch định chính sách quản lý kiểm dịch thực vật và các doanh nghiệp phát triển vùng nguyên liệu sắn.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Hệ thống dữ liệu định lượng về thông số nhiệt học ($T_0, DD$) và bảng sống ($R_0, T, r_m$) của rệp sáp bột hồng P. manihoti.
- Quy trình và kỹ thuật nhân nuôi ong ký sinh Anagyrus lopezi trên ký chủ rệp sáp bột hồng trong điều kiện nhiệt độ nhân tạo.
- Bộ số liệu so sánh tính chống chịu rệp của 5 giống sắn (KM94, KM981, KM444, KM419, HL23) phục vụ công tác chọn tạo và bố trí giống sắn kháng dịch hại.
Câu hỏi thường gặp
-
Khởi điểm phát dục và tổng tích ôn hữu hiệu của rệp sáp bột hồng hại sắn (Phenacoccus manihoti) là bao nhiêu?
Theo kết quả phân tích hồi quy tuyến tính của luận án, khởi điểm phát dục cơ sở ($T_0$) của toàn bộ vòng đời rệp sáp bột hồng là $8,18^\circ\text{C}$ và tổng tích ôn hữu hiệu ($DD$) cần thiết để hoàn thành vòng đời là $562,9^\circ\text{C}$. Khoảng nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của rệp là từ $25^\circ\text{C}$ đến $30^\circ\text{C}$.
-
Ong ký sinh Anagyrus lopezi ưu tiên ký sinh trên giai đoạn phát dục nào của rệp sáp bột hồng?
Kết quả nghiên cứu xác định ong ký sinh Anagyrus lopezi ưu tiên lựa chọn và đạt tỷ lệ ký sinh, tỷ lệ vũ hóa và tỷ lệ ong cái cao nhất trên rệp non tuổi 3 và rệp trưởng thành của loài P. manihoti.
-
Nhiệt độ tối ưu cho hoạt động của ong ký sinh Anagyrus lopezi và thời điểm ong tiêu diệt rệp mạnh nhất là khi nào?
Nhiệt độ thích hợp nhất cho hoạt động ký sinh của ong A. lopezi đối với rệp sáp bột hồng là $27,5^\circ\text{C}$. Khả năng ký sinh và tiêu diệt rệp của ong cái đạt mức cao nhất vào ngày thứ hai sau khi vũ hóa.
-
Trong các giống sắn được thử nghiệm, giống nào có khả năng chống chịu rệp sáp bột hồng tốt nhất?
Trong số 5 giống sắn được nghiên cứu (KM94, KM981, KM444, KM419, HL23), giống sắn KM981 thể hiện khả năng chống chịu rệp sáp bột hồng tốt nhất, ghi nhận mật độ rệp, tỷ lệ hại và chỉ số hại thấp nhất trong điều kiện thực nghiệm.
-
Mức độ thiệt hại năng suất củ do rệp sáp bột hồng gây ra trên cây sắn được ghi nhận là bao nhiêu?
Khi mật độ rệp tăng cao gây cháy ngọn và rụng toàn bộ lá, rệp sáp bột hồng làm giảm năng suất củ sắn trung bình từ 52% đến 58%, và tại những vùng bị hại nặng mức sụt giảm năng suất củ có thể lên đến 84% (hoặc 84,4%).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Hữu Tình đã cung cấp các dữ liệu khoa học định lượng về thành phần chân khớp hại sắn tại Quảng Trị, đặc điểm sinh học, quy luật nhiệt học và bảng sống của rệp sáp bột hồng (Phenacoccus manihoti) dưới tác động của các dải nhiệt độ và các giống sắn khác nhau. Công trình xác định rõ dải nhiệt độ tối ưu ($25 - 30^\circ\text{C}$), ngưỡng nhiệt phát dục ($T_0 = 8,18^\circ\text{C}$), tổng tích ôn ($DD = 562,9^\circ\text{C}$) của rệp, đồng thời chỉ ra giống sắn KM981 có tính chống chịu dịch hại tốt nhất. Đồng thời, luận án làm sáng tỏ đặc tính sinh học, tập tính chọn lựa ký chủ (rệp tuổi 3 và trưởng thành) và nhiệt độ tối ưu ($27,5^\circ\text{C}$) của ong ký sinh chuyên tính Anagyrus lopezi, đóng góp cơ sở thực tiễn trực tiếp cho việc xây dựng quy trình nhân nuôi và ứng dụng biện pháp sinh học kiểm soát rệp sáp bột hồng hại sắn tại Việt Nam.