Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các loại sâu hại phố biến trên cây họ bầu bí Ruồi đục trái (Bactrocera cucurbitae): Rudi có kích thước và hình dạng giống rudi đục trái cây, nhưng chỉ gây hại trên họ bau bí. Âu trùng là doi có màu trắng nga, đục thành đường ham ngoan ngoèo bên trong trái làm thối trái, rụng trái. Phòng trừ bang cách thường xuyên thăm đồng, thu dọn các quả bị sâu và đem tiêu hủy, cày phơi đất vụ sau hoặc cho nước ngập ruộng vài ngày dé diệt nhộng. Phun ngừa ruồi bằng các thuốc như: Sofri Protein.
Sherpa, Fastac, Sherzol, Polytrin. Nếu ruồi ở mật độ cao có thé dùng bay dam pha với một ít đường và trộn với thuốc trừ sâu, đặt rải rác 6 -10 m một bay. Cũng có thé dùng giấy báo, bao nilong dé bao trái sau khi trái đậu 2 - 3 ngày (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2009). Sâu xanh 2 sọc trắng (Diaphania indica): Ngài hoạt động đẻ trứng vào ban đêm, sâu non dai 8 — 10 mm, màu xanh lá cây nhạt, sống ở dot và nách đưới lá non, nha tơ cuốn lá non lại ở trong đó cắn dot và lá khi có trái non sâu gặm vỏ trái làm trái san sùi.
Sâu phát sinh gây hại từ khi cây khổ qua còn nhỏ đến khi ra trái, nhiều nhất khi cây ra hoa và có trái non. Phòng trừ bằng cách bắt giết băng tay, dùng thuốc Đầu trâu Bucilus, Sherpa, Vertimec, Vibasu, Padan, phun thuốc trừ sâu sinh học Reasgant 3. Doi đục lá (Liriomyza trifolii): Ruồi trưởng thành rat nhỏ, dài 1,5 — 2,0 mm. Rudi non gọi là con doi, màu vàng nhạt, thân dẹp, dai khoảng 2 mm.
Con doi đục dưới lớp biểu bì lá ăn chất xanh tạo thành những đường ngoan ngoéo màu trắng (nên còn gọi là sâu vẽ bùa). Một lá có nhiều dòi phá hại làm lá bị cháy khô, cây sinh trưởng phát triển kém, cây còn nhỏ có thể chết. Rudi đục lá gây hại từ lúc cây còn nhỏ đến ra hoa. Phòng trừ bằng cách ngắt bỏ các lá bị bệnh, phun thuốc Sherzol, Trigard, Polytrin, Vibasu, Padan.
Bọ trĩ (Thrips palmi): Bo tri còn gọi là bù lạch. Bọ trưởng thành và bọ non đều rat nhỏ, đài khoảng 1 mm, có thé nhìn thay bang mắt thường. Cả bọ trưởng thành và bọ non đều sống tập trung ở mặt dưới lá non. Bọ trưởng thành di chuyển nhanh, đẻ trứng trong mô mặt dưới lá.
Bọ trĩ hút nhựa làm đọt non và lá non xoăn lại, có nhiều đốm nhỏ màu nâu nhạt. Mật độ bọ cao làm cây căn cỗi, đọt chùm lại, lá vàng và khô, hoa rụng, trái ít và nhỏ. Bọ trĩ cũng là môi giới truyền bệnh virus cho cây. Phòng trừ bằng cách chăm sóc đầy đủ cho cây sinh trưởng tốt, khi bọ phát sinh phun thuốc: Sherpa, Karate, Confidor, Admire,.nên luân phiên thay đổi thuốc giữa các lần phun (Phạm Văn Biên va ctv, 2003).
Nhén đỏ (Tetranychus urticae): Nhén trưởng thành rất nhỏ, hình bau dục, dai khoảng 0,5 mm, màu đỏ hồng, có 8 chan, di chuyén nhanh. Trứng rất nhỏ, hình bầu dục, màu đỏ sam. Nhện con giống trưởng thành, màu hồng có 6 chân. Nhện con và trưởng thành sống tập trung mặt dưới lá, chích hút nhựa tạo thành các vết màu nâu vàng nhạt dọc hai bên gân lá.
Mật độ nhện cao có thể làm lá vàng, khô va rụng, cây sinh trưởng kém. Nhén còn chích hút vỏ trái non làm nhỏ trái. Nhện phát triển trong điều kiện thời tiết nóng và khô, gây hại năng khi cây khổ qua đã lớn, ra hoa, có qua. Phòng trừ bằng cách chăm sóc đầy đủ cho cây sinh trưởng tốt.
Khi nhện gây hại không để ruộng khô hạn và dùng các loại thuốc như Comite, Nisorun, Ortus, Sirbon Danitol. (Pham Van Bién va ctv. Ray mềm (Aphis gossypii): Au trùng và thành trùng tập trung mặt dưới lá, nhất là đọt non, bông, chéi, hút nhựa lam dot va lá non xoăn lai, lá bị nhạt màu sau đó chuyên sang màu vàng, cây sinh trưởng kém, quả nhỏ, san sùi và cháy xám hoặc dé lại những vết thâm đen trên lá. Thành trùng gồm 2 dang có và không có cánh.
Thời tiết khô và ít mưa thích hợp cho ray phát triển. Ray là nguyên nhân truyền bệnh virus cho cây.sau cùng làm cây mắt sức, lùn và chết (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) 1.1 Ray mềm Aphis gossypii (Hemiptera: Aphididae) 1.1 Phan loai Bộ: Hemiptera, Họ: Adiphidae ,Chi: Aphis, Loài: Aphis gossypii 1.2 Sự phân bố và ký chủ Ray mềm A. gossypii gây hại nhiều loài cây trồng ở vùng nhiệt đới, ôn đới và khắp thé giới trừ Bắc Cực (Vũ Thi Nga và cộng sự, 2011). Theo Nguyễn Thị Chat (2006), ray mềm A.
gossypii xuất hiện ở rất nhiều nước trên thế giới, chúng phân bố từ 60° vĩ Bắc đến 40° vĩ Nam bao gồm các nước vùng Trung Á và Trung Quốc, Các nước Đông Nam Á. Theo Capinera (2001), ray mềm A. gossypii có phô ký chủ rộng. Ít nhất 60 ký chủ thực vật được biết đến ở Florida và khoảng 700 cây ky chủ trên toàn thé giới.
Trong số các cây thuộc họ bầu bí, chúng là dịch hại nghiêm trọng trên dưa hấu, dưa leo. Các loại cây khác bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi rầy mềm là măng tây, cà tím, đậu bắp, cam quýt, bông. Theo Harington va Emden (2007), ray mềm A. gossypii phân bố rộng va đa kí chủ, tấn công trên nhiều loài rau màu như cà chua, thuốc lá, bau bí, dưa, ớt.
Ray mềm gây hại nhiều loài cây trồng ở vùng nhiệt đới, ôn đới và khắp thế giới. Đặc biệt tắn công trên các loài cây thuộc ho cà, bầu bí, cây bầu bí, cây có múi, ca phê. Theo Nguyễn Hồng Yến (2009) trong điều kiện ở Ninh Thuận và Bình Thuận đã phát hiện được 25 loại cây trồng và cậy dại thuộc 11 họ thực vật là ký chủ của rầy mềm A. Trong số các cây ký chủ đã ghi nhận được các cây: đậu bắp, dưa hấu, bí đỏ, bau, mướp, dưa leo, cây ớt là thức ăn ưa thích nhất của ray mềm A.3 Đặc điểm hình thái và sinh học Thành trùng gồm 2 dang có và không có cánh: Dang không cánh cơ thé dai từ 1,5 -1,9 mm và rộng từ 0,6 — 0,8 mm, toàn thân màu xanh đen, xanh tham và có lớp phủ sáp, một ít cá thé có dạng màu vàng xanh.
Dạng có cánh cơ thé dài từ 1,2 — 1,8 mm, rộng từ 0,4 — 0,7 mm, đầu và ngực màu nâu đen, bụng màu vang nhạt, có khi xanh đậm, phiến lưng ngực trước màu đen, mắt kép to, ống bụng đen (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011). Theo Nguyễn Thị Chắt (2006), thời gian sinh sản của thành trùng khoảng 15 ngày. Một con cái có thể đẻ trung bình mỗi ngày 5 — 7 con. Con cái có cánh đẻ ít hơn con cái không cánh.
Nhiệt độ tối hảo cho sự sinh sản khoảng 21 — 27°C. Rầy mềm có thê sinh sản đơn tính, nghĩa là đẻ con không cân sự giao phôi giữa con đực va con cái. Đặc điểm phân biệt A. gossypii so với các loài ray mềm khác là dựa vào ống bụng và phiến đuôi (cauda).
Với ống bụng màu đen dài gấp đôi phiến đuôi và phiến đuôi có màu nhạt hơn cơ thê với 2 — 4 cặp lông đuôi (thường là 3 cặp lông đuôi) (Napier, 2009; Stoetzel và ctv. Theo Viện Bảo Vệ Thực Vật (2003), ray mềm không cánh có mau sắc thay đôi rất nhiều tùy theo kí chủ, mùa vụ mà có màu sắc khác nhau. Rầy mềm trưởng thành thường có màu vàng nhạt, xanh đậm, xanh sáng, có điểm chấm màu xanh tối. Nhìn từ trên xuống mảnh lồi trên trán không phát triển, râu đầu có 6 đốt.
Ray cái có thé đẻ trứng hoặc đẻ con tùy thuộc vào điều kiện thời tiết. Vùng ôn đới ray thường đẻ trứng. Trứng hình bau dục, mới đẻ màu vàng nhạt, sau chuyền sang xanh đậm rồi den dan. Nhưng trong điều kiện nhiệt đới rầy chủ yếu đẻ con với kích cỡ và mảu sắc như sau: Tuôi 1: Au trùng màu xanh nhạt sau chuyên sang màu vàng và cuối cùng là nâu nhạt.
Cơ thê có đốt rõ ràng, râu đầu có 5 đốt. Thời gian phát triển 1 — 2 ngảy. Tuéi 2: Thân màu hơi xám, cạnh ngoài màu trắng nhạt. Rau đầu 5 đốt, ống bụng màu đen.
Thời gian phát triển 1 — 2 ngày. Tuôi 3: Tuổi này phân biệt được hai dạng ấu trùng không có cánh và có cánh nhờ mam cánh xuất hiện và số râu đầu tăng lên 6 đốt. Thời gian phát triển từ — 2 ngày. Tuôi 4: Mầm cánh rõ ràng, cả hai dang âu trùng đều có màu xám đậm.
Thời gian phát triển từ 2 — 3 ngày.4 Đặc điểm gây hại Ray mềm sống tập trung thành đám đông ở chồi non và ở mặt dưới lá non từ khi cây có 2 lá mầm đến khi thu hoạch, chúng chích hút nhựa làm cho ngọn dưa chùn lại, cây sinh trưởng kém, mật độ rầy mềm cao có thể làm khô cả lá. Rầy mềm còn truyền các bệnh do virus gây ra, chúng là vectơ của 76 loại virus cho phạm vi rất lớn các cây ký chủ (Chan và cộng sự, 1991). Theo Viện Bao Vệ Thực Vật (2003), ray mềm thường tập trung trên phần non nhất của cây, nhất là trên lá non, trên đọt non chúng chích hút chất auxin làm chậm sự tăng trưởng của cây. Rầy còn là môi giới truyền bệnh khảm cho cây đậu.
Cách gây hại: Trên đậu xanh, rầy bám trên trái non làm chậm phát triển, lâu chín, vỏ trái có những vết thâm đen, khó tách hạt và số hạt trên trái bị giảm. Trên đậu đũa: Trái bị giảm phẩm chất, tiết dich thu hút nam mốc tan công trái. Trên đậu phộng: ray tập trung trên lá non, ngọn, hoa chích hút dich cây và thu hút nam den làm cho lá có màu den. Mưa lớn làm giảm mật độ rây mêm.
Theo Bastiaan (1996), ray mềm hút dịch cây bằng vòi hút. Hầu hết ray mềm có khả năng tiết ra một loại dịch gọi là “mật” tương tự như nước đường, chúng rơi xuống lá hoặc bat kỳ vật gì dưới chúng. Một loài nam là nam mốc (Capnodium spp.) phủ trên bề mặt của dịch này tạo thành lớp muội đen. Kết quả là ánh sáng không thê đến bề mặt lá, ngăn quá trình quang hợp, tổng hợp đường của cây.
Mặt khác chất dịch này thu hút kiên, ruôi và một sô côn trùng khác. Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), Rầy mềm là nguyên nhân truyền nhiều bệnh do virus gây ra cho cây. Sau cùng làm cây bị mắt sức, lùn và chết.