Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Số Và Chu Kỳ Phóng Thả Ong Ký Sinh Đến Hiệu Quả Kiểm Soát Sâu Đầu Đen

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp bảo vệ thực vật ảnh hưởng của mật số và chu kỳ phóng thả ong ký sinh ấu trùng bracon, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Bảo Vệ Thực Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2023

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu sơ lược về cây dừa

1.2. Tình hình sản xuất trên thế giới và Việt Nam

1.3. Các loài sâu hại trên dừa

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Điều kiện khí hậu, thời tiết tỉnh Bến Tre

2.3. Vật liệu, thiết bị và công cụ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Nhân nguồn ong ký sinh

2.4.2. Xác định mật số phóng thả ong ký sinh Bracon hebetor ra ngoài các vườn dừa để kiểm soát sâu đầu đen Opisina arenosella

2.4.3. Xác định chu kỳ phóng thả ong ký sinh Bracon hebetor ra ngoài các vườn dừa để kiểm soát sâu đầu đen Opisina arenosella

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Xác định mật số phóng thả ong ký sinh B. hebetor phù hợp tại Bến Tre

3.2. Xác định chu kỳ phóng thả ong ký sinh B. hebetor phù hợp tại Bến Tre

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC HÌNH

DANH SÁCH BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ảnh Hưởng Của Mật Số Ong Ký Sinh

Nghiên cứu về mật số và chu kỳ phóng thả của ong ký sinh Bracon hebetor đã chỉ ra rằng việc điều chỉnh mật số có thể ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kiểm soát sâu đầu đen. Sâu đầu đen, một trong những loài gây hại chính cho cây dừa, đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với sản xuất nông nghiệp tại Bến Tre. Việc hiểu rõ về mối quan hệ giữa mật số và hiệu quả kiểm soát là rất cần thiết để phát triển các phương pháp kiểm soát sinh học hiệu quả.

1.1. Tình Hình Sâu Đầu Đen Tại Việt Nam

Sâu đầu đen (Opisina arenosella) đã xâm nhập vào Việt Nam từ năm 2020 và gây thiệt hại nghiêm trọng cho cây dừa. Theo báo cáo, tỷ lệ sâu đầu đen gây hại đã tăng từ 2,4% lên 42,5% trong vòng 6 tháng. Việc kiểm soát loài sâu này là rất cần thiết để bảo vệ sản xuất nông nghiệp.

1.2. Vai Trò Của Ong Ký Sinh Trong Kiểm Soát Sâu

Ong ký sinh Bracon hebetor được biết đến là một trong những thiên địch hiệu quả trong việc kiểm soát sâu đầu đen. Nghiên cứu cho thấy ong ký sinh có khả năng tiêu diệt sâu đầu đen, từ đó giảm thiểu thiệt hại cho cây dừa.

II. Thách Thức Trong Kiểm Soát Sâu Đầu Đen

Việc kiểm soát sâu đầu đen gặp nhiều thách thức do đặc điểm sinh học và môi trường sống của chúng. Sâu đầu đen có khả năng sinh sản nhanh chóng và phát triển mạnh trong điều kiện khí hậu ẩm ướt của Bến Tre. Điều này làm cho việc áp dụng các biện pháp kiểm soát trở nên khó khăn hơn.

2.1. Đặc Điểm Sinh Học Của Sâu Đầu Đen

Sâu đầu đen có chu kỳ sống ngắn và khả năng sinh sản cao, điều này khiến cho việc kiểm soát chúng trở nên khó khăn. Chúng có thể phát triển mạnh trong các điều kiện khí hậu khác nhau, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới.

2.2. Ảnh Hưởng Của Thời Tiết Đến Sâu Đầu Đen

Thời tiết ẩm ướt và nhiệt độ cao là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của sâu đầu đen. Những yếu tố này không chỉ thúc đẩy sự sinh sản của sâu mà còn làm tăng mức độ gây hại cho cây dừa.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Mật Số Ong Ký Sinh

Nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp thí nghiệm để xác định mật số và chu kỳ phóng thả của ong ký sinh Bracon hebetor. Các nghiệm thức được thiết kế để đánh giá hiệu quả kiểm soát sâu đầu đen trong các điều kiện khác nhau.

3.1. Thiết Kế Thí Nghiệm Mật Số Phóng Thả

Thí nghiệm được thực hiện với 4 nghiệm thức khác nhau về mật số phóng thả ong ký sinh, từ không thả đến 2500 cặp ong ký sinh/1000 m². Kết quả cho thấy mật số cao nhất mang lại hiệu quả kiểm soát tốt nhất.

3.2. Xác Định Chu Kỳ Phóng Thả

Nghiên cứu cũng xác định chu kỳ phóng thả ong ký sinh, với các nghiệm thức phóng thả 1 tháng 1 lần và 10 ngày 1 lần. Kết quả cho thấy phóng thả 1 tháng 1 lần mang lại hiệu quả cao hơn.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Kiểm Soát

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc phóng thả ong ký sinh với mật số 2500 cặp/1000 m² đạt hiệu quả kiểm soát cao nhất, lên đến 65,35%. Điều này chứng tỏ rằng việc điều chỉnh mật số và chu kỳ phóng thả là rất quan trọng trong việc kiểm soát sâu đầu đen.

4.1. Hiệu Quả Kiểm Soát Từ Mật Số Cao

Mật số 2500 cặp ong ký sinh/1000 m² cho thấy khả năng kiểm soát sâu đầu đen tốt nhất, với tỷ lệ kiểm soát đạt 65,35%. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc tối ưu hóa mật số trong các chiến lược kiểm soát sinh học.

4.2. So Sánh Giữa Các Nghiệm Thức

Kết quả từ các nghiệm thức cho thấy sự khác biệt rõ rệt về hiệu quả kiểm soát giữa các mật số khác nhau. Nghiệm thức 1500 cặp đạt 34,23% và 500 cặp đạt 30,77%, cho thấy mật số cao hơn mang lại hiệu quả tốt hơn.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc điều chỉnh mật số và chu kỳ phóng thả của ong ký sinh Bracon hebetor có thể cải thiện hiệu quả kiểm soát sâu đầu đen. Tương lai của nghiên cứu này có thể mở ra hướng đi mới cho việc áp dụng các biện pháp sinh học trong nông nghiệp.

5.1. Hướng Đi Mới Trong Kiểm Soát Sinh Học

Việc áp dụng các biện pháp sinh học như phóng thả ong ký sinh có thể trở thành giải pháp bền vững cho việc kiểm soát sâu hại trong nông nghiệp. Nghiên cứu này mở ra cơ hội cho việc phát triển các quy trình kiểm soát hiệu quả hơn.

5.2. Đề Xuất Nghiên Cứu Tiếp Theo

Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định các yếu tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát của ong ký sinh, từ đó phát triển các phương pháp kiểm soát sâu hại hiệu quả hơn trong tương lai.

09/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật ảnh hưởng của mật số và chu kỳ phóng thả ong ký sinh ấu trùng bracon hebetor hymenoptera braconidae đến hiệu quả kiểm soát sâu đầu đen opisina arenosella walker lepidoptera xyloryctidae hại dừa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây dừa 1.1 Nguồn gốc và phân bố Cây dừa (Cocos nucifera L.) là một trong những loài thuộc giới Plantae, bộ Arecales, họ Arecaceae, chi Cocos. Nguồn sốc thực sự của cây dừa hiện vẫn chưa xác định và gây ra nhiều tranh cãi. Có một số ý kiến cho rằng nguồn gốc của cây dừa là tại vùng ven biển phía Tây của Trung Mỹ. Trong khi một số học giả lại cho rang nó có nguồn sốc ở khu vực Đông Nam thuộc Châu Á.

Trong khi đó, một số khác lại nhận định nó có nguồn gốc ở miền Tây Bắc của Nam Mỹ. Tại New Zealand, các nhà khoa học đã đưa ra những bằng chứng về các loài thực vật được cho là tô tiên của cây dừa đã được tìm thấy ở khu vực này từ trước đây khoảng 15 triệu năm. Tuy nhiên một số di tích có niên đại trước đó đã được các nhà khoa học phát hiện ở Rajasthan, Tamil Nadu và các sườn núi ở biên giới Kerala và Maharashtra miền Nam Án Độ (Grimwood và Ashman, 1975). Một số còn lại thì cho rằng nguồn gốc của cây dừa xuất phát từ vùng Indo - Pacific (An Độ - Thai Bình Dương).

Cây dừa còn được cho là có từ cách nay khoảng 80 triệu năm trước, ở khu vực Nam bán cầu Gondwana. Cùng với sự dịch chuyên của các mảng kiến tạo trái đất mà cây dừa di chuyên đến nhiều vùng khác nhau như Madagascar, Châu Phi, Nam Mỹ và các quốc gia Nam A như An Độ, Pakistan và Bangladesh. Con người được cho là đã bắt đầu biết sử dụng trái dừa từ cách đây hơn nửa triệu năm. Sau đó được các thủy thủ Châu Âu phát hiện ra và được trồng tại vùng biển Caribê vào thế kỷ mười sáu thì cuộc hành trình toàn cầu của cây dừa được hoàn tất (Pankaj T.

Parmar và ctv, 2021). Cho đến ngày hôm nay, mặc dù được xem là loại cây trồng phô biến trên toàn thế giới nhưng nguồn gốc thực sự của cây dừa vẫn là câu hỏi chưa thê tìm ra. Ngày nay, cây dừa đã trở thành cây trồng pho biến nhất tại khu vực nhiệt đới và cận xích đạo, chủ yếu từ 20° Bắc đến 20° Nam (ICC, 2020; FAO, 2020). Tuy nhiên, dừa tập trung nhiều nhất ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương như khu vực Đông Nam Á, Nam Mỹ, một số quốc gia như Ấn Độ, Uc và một sô quôc gia khác tại châu Phi.

Nhiệt độ tối ưu cho dừa sinh trưởng và phát triển tốt là từ 27°C đến 29°C. Nếu nhiệt độ dưới 20°C kéo dai sẽ làm giảm năng suất quả, nhiệt độ đưới 15°C cây bắt đầu bị rối loạn sinh lý và gây ra rụng trái non. Dừa là loại cây ưa ánh sánh nên nếu trồng trong điều kiện ánh sáng ít hoặc dưới bóng râm sẽ làm chậm thời gian ra trái của cây. Độ âm thích hợp cho dừa phát triển là từ 60 - 90%, độ âm thấp hơn sẽ có hiện tượng rụng trái non.

Là một trong những cây trồng truyền thống của ngành nông nghiệp, cây dừa rất đễ trồng và chăm sóc, cây phát triển tốt nhất ở khu vực đồng bằng và duyên hải (Grimwood va Ashman, 1975). Là loại cây đa niên có thời gian kiến thiết cơ bản từ 1 - 3 năm. Sau đó cho thu hoạch với năng suất 1 cây có thé đạt từ 80 - 100 trai/nam (Dương Tan Lợi, 2004). Ngoài ra cây dita còn được trồng trên nhiều loại đất khác nhau do đặc tính không kén đất, sinh trưởng tốt và cho năng suất cao trừ đất phèn nặng và đất nhiễm mặn (Nguyễn Bảo Vệ, 2011).2 Tình hình sản xuất trên thế giới và Việt Nam 1.1 Trên thế giới Hiệp hội Dừa Châu A và Thái Binh Dương (APCC) cho biết tổng diện tích dừa năm 2010 là 12,366 triệu ha và giảm còn 11,908 triệu ha năm 2016, trong đó diện tích dừa của các nước Châu A - Thái Bình Dương là gần 11 triệu ha, chiếm trên 85% tổng diện tích dừa toàn thế giới.

Ba quốc gia sản xuất hàng đầu trên thế giới là: Indonesia, Philippines, và An Độ - chiếm tới 3/4 sản lượng toàn cầu (Hiệp hội dừa Bến Tre, 2018). Theo FAO (2021), đến nay cây dừa được trồng trên 93 quốc gia với tổng diện tích đạt 11,3 triệu ha, sản lượng đạt 63,7 triệu tan. Trong đó, chau A với điện tích 9,6 triệu ha và sản lượng đạt 54 triệu tan chiếm gần 85% tổng diện tích và sản lượng dừa toàn thé giới. Ba quốc gia đứng đầu về diện tích và sản lượng dừa trên thế giới là: Indonesia (2,8 triệu ha; 17,16 triệu tan), Philippines (3,6 triệu ha; 14,72 triệu tan), An Độ (2,2 triệu ha; 14,30 triệu tấn) - chiếm gan 73% sản lượng toàn cầu.

Tiếp theo là Srilanka 2,50 triệu tấn, Brazil 2,46 triệu tấn, Việt Nam 1,87 triệu tấn, Papua New Guinea 1,81 triéu tan, Myanmar 1,24 triệu tan, Mexico 1,12 triệu tấn.2 Tại Việt Nam Tại Việt Nam, dừa được xem là một trong số những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đóng góp ngày càng quan trong trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Với điện tích khoảng 167.642 ha, sản lượng dat 1.180 tan, Việt Nam đứng thứ 8 về diện tích và thứ 6 về sản lượng dừa trên thế giới (FAO, 2021). Dừa được phân bố tại hầu khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước, nhưng tập trung với quy mô lớn tại hai vùng: Đồng bằng Sông Cửu Long, tiêu biểu là tỉnh Bến Tre và Duyên hải miền Trung, tỉnh Bình Định (Tạp chí Kinh tế Nông nghiệp, 2021). Trong đó, Đồng bằng Sông Cửu Long là vùng sản xuất dừa lớn nhất cả nước với quy mô khoảng 130 nghìn ha, chiếm hon 80% diện tích dừa (Sở Công thương Bến Tre, 2021).

Các tỉnh có diện tích dừa lớn: Trà Vinh với 20 nghìn ha, Tiền Giang trên 14 nghìn ha, Vĩnh Long trên 7 nghìn ha. Tình trạng quy mô sản xuất hiện nay vẫn còn nhỏ lẻ, chưa tập trung nên dù được Cộng đồng Dừa quốc tế (ICC) đánh giá có năng suất va chất lượng cao nhất thế giới, nhưng giá trị mà cây đừa mang lại chưa tương xứng với nhận định trên (Tạp chí Kinh tế Nông nghiệp, 2021). PHAN BO DIỆN TÍCH DỪA VIỆT NAM NĂM 2021 Hình 1.1 Phân bố diện tích dừa Việt Nam năm 2021 (Hiệp hội dita Bến Tre, 2022) Bến Tre với điện tích trên 77,2 nghìn ha, là tỉnh có diện tích và sản lượng dừa lớn nhất cả nước, chiếm 41% tổng điện tích trồng diva cả nước, tương đương với 1% diện tích dừa thế giới. Bến Tre hiện đang có 525 doanh nghiệp đầu tư lĩnh vực đừa, với 6 tổng số vốn đầu tư khoảng 20.

Với hon 200 mặt hàng sản phẩm từ dừa được sản xuất, chế biến phục vụ tiêu dung trong nước và xuất khẩu (Tạp chí Kinh tế Nông nghiệp, 2021). Thị trường xuất khẩu của các sản phẩm từ dừa tiếp tục được giữ vững và không ngừng mở rộng. Mo Cay Nam (22%) Hình 1.2 Phan bố diện tích dừa tinh Bến Tre năm 2021 (Hiệp hội dita Bến Tre, 2022) Hiện sản phẩm dừa Bến Tre có mặt trên 90 quốc gia và vùng lãnh thé; trong đó, chủ yếu là Hoa Kỳ, EU, Trung Đông, châu Phi, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia (Báo điện tử Chính phủ, 2022). Kim ngạch xuất khẩu các sản phâm từ dừa của tỉnh năm 2021 đạt trên 395,2 triệu USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ và chiếm trên 30,3% tong kim ngạch xuất khâu toàn tinh (báo Đồng Khởi, 2022).

Từ lâu cây dừa đã trở thành một phần không thẻ thiếu trong đời sống người dân. Dừa được tỉnh xác định là cây trồng chủ lực cung cấp nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp và chế biến giúp tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, 6n định kinh tế địa phương va góp phần vào ngân sách quốc gia.3 Các loài sâu hại trên dừa Dừa là cây trồng đễ chăm sóc tuy nhiên với đặc điểm thân cây cao, tán lá rộng là điều kiện lí tưởng cho các loai sâu hại trú ân và gây hại. Đồng thời cũng khiến cho việc phát hiện và phòng trừ gặp nhiều khó khăn. Sâu hại được xem là nguyên nhân chính làm 7 giảm năng suất và chất lượng dừa.

Đã ghi nhận được hơn 800 loài sâu hại tấn công các bộ phận như thân, lá, hoa, quả của cây dừa (Shameer và ctv, 2017). Trong đó, bọ dừa (Brontispa longissima) được ghi nhận gây hại nặng ở một số tỉnh của Indonesia (Hosang và ctv, 2004). Ngoài ra, theo Hiệp Hội Dừa Bến Tre (2013), việc canh tác dừa gặp nhiều khó khăn do tình trạng hạn mặn và dịch bọ dừa (Brontispa longissima) bùng phát. Đến giữa tháng 07/2020 sâu đầu đen hại dừa (Opisina arenosella Walker) được ghi nhận xuất hiện gây hại.

Đây là loài dịch hại đặc biệt nghiêm trọng trên các vườn dừa ở Sri Lanka (Perera va ctv, 1987). Cần nhanh chóng xây dựng các biện pháp quản lý dé kiểm soát kịp thời, hiệu quả nhằm giảm tối thiểu tôn thất về năng suất và chất lượng do chúng gây ra.2 Sâu đầu đen hại dừa Opisina arenosella Hình 1.3 Phân bố sâu đầu đen trên thé giới (CABI, 2021) Sâu đầu đen hại dừa có tên khoa học là Opisina arenosella thuộc họ Xyloryctidae (Mohan, 2010). Là một loài sâu hại nghiêm trọng có nguồn gốc từ phía Nam An Độ và Sri Lanka (Howard và ctv, 2001). Được ghi nhận xuất hiện gây hại lần đầu tiên tại thành phố Coimbatore phía Nam Ấn Độ vào năm 1907.

Sau đó sâu phát tán qua các thành phố Andhra Pradesh, Bapatala năm 1909 và nhanh chóng lan rộng ra một số quốc gia và vùng lãnh thổ như Bangladesh, Myanmar, Karnataka, Pakistan, Sri Lanka, Indonesia và Thái Lan (Kumara, 2015). Tại Thai Lan, O. arenosella lần đầu tiên xuất hiện và gây hại từ năm 2008 với diện tích bị nhiễm là 200 - 320 ha, sau đó tăng lên 48. Sâu đầu den lần đầu tiên xâm nhập và bùng phát ở miền Nam Trung Quốc vào năm 2013 (Jin, 2016) và tan công nghiêm trọng hau hết cây ho Co như dừa (Cocos nucifera L.), cọ hoàng thảo (Roystonea regia), cọ quạt Trung Quốc (Livistona chinensis) và chà là (Phoenix dactylifera).

Sâu có thể làm giảm một nửa sản lượng dừa hoặc tệ hơn làm giảm ra hoa đậu quả, tăng khả năng rụng quả, cây chậm phát triển và co thắt ở thân (Lever, 1969). Giữa tháng 07/2020, Việt Nam ghi nhận sự xuất hiện và gây hại của sâu đầu đen tại xã Phú Long, huyện Bình Đại và xã Hữu Định, huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre, với diện tích nhiễm ban đầu khoảng 30 ha, mức độ gây hại có vườn trên 70%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Số Và Chu Kỳ Phóng Thả Ong Ký Sinh Đến Kiểm Soát Sâu Đầu Đen" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà mật số và chu kỳ phóng thích của ong ký sinh có thể ảnh hưởng đến việc kiểm soát sâu đầu đen. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố sinh học mà còn đề xuất các phương pháp hiệu quả để quản lý sâu hại, từ đó giúp nông dân và các nhà nghiên cứu có thêm thông tin quý giá trong việc bảo vệ mùa màng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về vấn đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật điều tra hiện trạng gây hại của sâu đầu đen opisina arenosella walker lepidoptera xyloryctidae tại bến tre, nơi nghiên cứu về tác động của sâu đầu đen tại Bến Tre. Ngoài ra, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật đánh giá khả năng ăn mồi của bọ xít mắt to geocoris sp trên cây khổ qua cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các loài thiên địch có thể hỗ trợ trong việc kiểm soát sâu hại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp quản lý sâu hại hiệu quả.